Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ ĐỘC LẬP CỦA THẨM PHÁN VÀ BẢO ĐẢM SỰ ĐỘC LẬP CỦA THẨM PHÁN 1. Nhận thức về thẩm phán và sự độc lập của thẩm phán 1. Nhận thức chung về thẩm phán và vị trí, vai trò của thẩm phán trong hoạt động tư pháp Thẩm phán là chức danh quan trọng trong ngành tư pháp, là người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ và sứ mạng của tòa án nói riêng và ngành tư pháp nói chung. Do đó, nhìn chung, các thẩm phán phải là những người được lựa chọn từ những người có phẩm chất đạo đức cao, công minh và liêm chính, những người có bằng cấp chuyên môn cần thiết, được đào tạo nghiệp vụ để bổ nhiệm vào chức danh quan trọng này [70].
thẩm phán có vị trí, vai trò rất quan trọng, họ có nhiệm vụ cùng với các cơ quan chức năng có liên quan góp phần làm cho xã hội hoạt động theo các quy định của pháp luật. Ở Việt Nam, thẩm phán là người được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng với kỳ vọng “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” và “Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”. từ đó, thẩm phán không chỉ là người có đạo đức tốt mà còn phải có nhận thức sâu sắc, kinh nghiệm sống, tinh thông về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị vững vàng, để nhận thức rõ vị trí vai trò của mình đối với nhân dân và đất nước [55]. Trong Tòa án - cơ quan duy nhất được nhân danh Nhà nước để đưa ra những quyết định, phán xét về hành vi của một người có tội hay không có tội và được quyền áp dụng hình phạt theo quy định của pháp luật đối với người có hành vi phạm tội.
Đặc biệt, trong các lĩnh vực xét xử khác như: Dân sự, kinh tế, hành chính, lao động. phán quyết của Toà án có ảnh hưởng trực tiếp đối với quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và những người tham gia tố tụng. Chủ tịch nước CHXHCNVN từng khẳng định: Để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật, mang lại niềm tin trong nhân dân, đòi hỏi TAND, mà hình ảnh thể hiện tập trung nhất là người 7 z thẩm phán, phải được nhân dân tôn trọng, là chỗ dựa vững chắc khi có việc yêu cầu Tòa án giải quyết và Bất kỳ sai sót nào của thẩm phán trong công tác xét xử cũng làm tổn hại đến uy danh của Toà án, suy rộng ra đó là uy danh của Nhà nước. Do vậy, thẩm phán phải luôn có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, trong cuộc sống của mình trước nhân dân.
Đối với thẩm phán TAND Tối cao, với chức năng nhiệm vụ của mình, các đồng chí còn phải thể hiện cho được vị trí, vai trò, bản lĩnh của mình với tư cách là thành viên của cơ quan xét xử cao nhất [71]. Thẩm phán là người trực tiếp tiến hành các hoạt động xét xử - một hoạt động có kết quả là các bản án mà có ảnh hưởng, quyết định trực tiếp đến nhân thân, tài sản, tự do của cá nhân, tổ chức nên dù cũng là công chức nhà nước [34] nhưng thẩm phán có vị trí quan trọng và thiết yếu đối với nhu cầu bảo vệ pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền. Thực chất, bản thân hoạt động xét xử đã ra đời từ rất sớm và nằm trong tay giai cấp chủ nô, phong kiến mà đại diện là vua. Đến thế kỷ XVII, XVIII khi giai cấp tư sản lớn mạnh, Cách mạng tư sản nổ ra, học thuyết tam quyền phân lập với luận điểm: tách quyền lập hành pháp và tư pháp ra khỏi quyền lập pháp, quyền lực nhà nước phải hình thành ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp kìm chế và đối trọng, lúc đó, thiết chế Tòa án ra đời và chức danh thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử vốn chưa từng có trước đó mới được hình thành [56, tr.16] Từ đó, có thể hiểu chung về thẩm phán như sau: thẩm phán là người làm việc trong cơ quan Tòa án, chuyên xét xử các vụ án và giải quyết các vụ việc theo thẩm quyền của Tòa án, ra các bản án, quyết định nhân danh nhà nước [56, tr.
Theo Điều 65 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử. Cùng với quy định của Điều 102 Hiến pháp 2013 về nhiệm vụ của Tòa án nhân dân “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, có thể định nghĩa như sau về thẩm phán ở Việt Nam: thẩm phán là một chức danh nhà nước, được 8 z Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Trong hoạt động tư pháp, thẩm phán là người giữ vị trí trung tâm đồng thời là kết thúc của quá trình tố tụng. Điều tra viên, kiểm sát viên dù đều là những chức danh quan trọng trong quá trình tiến hành tố tụng nhưng sự phán quyết kết quả cuối cùng vẫn do thẩm phán chịu trách nhiệm, kỳ vọng lớn nhất ở xã hội vẫn nằm ở thẩm phán chứ không ai khác.
Dù là tố tụng hình sự, dân sự hay hành chính thì thẩm phán là người chịu trách nhiệm cuối cùng về kết quả của quá trình xét xử, sự đúng, sai và việc tìm ra sự thật khách quan của vụ việc có thể không phụ thuộc vào thẩm phán nhưng lại thể hiện trong phán quyết của thẩm phán. Vì thế, với nền tư pháp nói chung thì chính những thẩm phán cụ thể chứ không phải cơ quan Tòa án có trách nhiệm và sứ mạng bảo vệ pháp luật, duy trì trật tự và công bằng xã hội. Khái niệm về sự độc lập của thẩm phán và ý nghĩa, vai trò của nó đối với việc thực hiện quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền 1. Khái niệm về sự độc lập của thẩm phán Định nghĩa sự độc lập của thẩm phán.
Về mặt từ ngữ, độc lập là tính chất của một mối quan hệ nhất định giữa chủ thể này với một hoặc nhiều chủ thế khác, trong đó, sự tồn tại, hoạt động của chủ thể này không nương tựa hoặc phụ thuộc vào bất cứ ai, vào bất cứ điều gì [30, tr. Sự độc lập của một chủ thể được đánh giá ở phương diện tồn tại và phương diện hoạt động. Trong đó, độc lập trong tồn tại của chủ thể là yếu tố ổn định và quyết định đến tính độc lập trong hoạt động của chủ thể. Có thể hiểu tính độc lập của Tòa án trong xét xử là tính chất của mối quan hệ phát sinh giữa Tòa án với các chủ thể khác trong quá trình Tòa án tồn tại cũng như thực hiện chức năng xét xử vụ án và giải quyết các vụ việc khác theo quy định của pháp luật.
Trong các mối quan hệ xã hội phát sinh, Toà án không lệ thuộc hay bị các chủ thể khác chi phối về phương diện tổ chức và hoạt động. Những yêu cầu đó được thể hiện trong các quy định pháp luật tạo nên địa vị pháp lý của Tòa án, loại trừ 9 z những sự ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình ra quyết định của Tòa án, để từ đó thẩm phán có thể ra phán quyết đối với một vụ việc chỉ dựa trên những tình tiết thực tế của sự việc và các quy định pháp luật có liên quan [25, tr. Khái niệm tính độc lập của thẩm phán, cần được xem xét ở hai khía cạnh [25, tr. Thứ nhất là tính độc lập của cá nhân thẩm phán khi là một chức danh trong cơ quan nhà nước.
Thứ hai là tính độc lập của thẩm phán khi thực hiện chức năng xét xử của Toà án trong các vụ án cụ thể. Cơ sở về sự độc lập của thẩm phán. Sự độc lập của thẩm phán được hình thành từ cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn như sau: Cơ sở lý thuyết về sự độc lập của thẩm phán khởi nguồn từ sự độc lập của nhánh quyền tư pháp trong học thuyết tam quyền phân lập. Thiết chế Toà án là một thiết chế rất đặc biệt trong hệ thống các cơ quan nhà nước.
Không những nó được hưởng quy chế phân quyền như các cơ quan lập pháp và hành pháp, mà còn phải độc lập hoàn toàn trước hai cơ quan này. Mặc dù nhiều nhà nước dân chủ tư sản được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân quyền giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng trên thực tế, hành pháp và lập pháp vẫn có sự phối kết hợp với nhau ở một mức độ nhất định, chỉ có tư pháp - do chức năng xét xử, bao giờ cũng được độc lập. Sức mạnh của nhà nước pháp quyền tuỳ thuộc nhiều vào sự độc lập của hệ thống tư pháp. Sự độc lập của thẩm phán hay hệ thống tư pháp trong mối quan hệ với lập pháp và hành pháp được lý giải như sau: Cội nguồn tư tưởng độc lập xét xử và quá trình hình thành tư tưởng hiện đại về độc lập trong hoạt động xét xử: Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới cho thấy các văn bản xa xưa nhất được phát hiện là Luật hình của nhà Hạ-Trung Quốc (2100 - 1600 trước Công nguyên) và bộ luật Hammurabi- Babylon (1792-1750 trước Công nguyên), trong đó có nhiều nội dung liên quan đến tư pháp, đến việc xét xử và hình phạt.
Sang đến thời kỳ cận trung đại, quyền lực tối cao của các thế lực phong kiến cai trị bắt đầu bị chia sẻ khi các văn bản về tổ chức quyền lực nhà nước ra đời. Đại Hiến chương Anh (Magna Charta) được vua Anh ban hành vào năm 1215 tuy không không có quy định trực tiếp nêu rõ về độc lập của thẩm phán trong khi xét xử 10 z hoặc những yếu tố liên quan nhưng đã nêu ra những nguyên tắc bình đẳng của pháp luật. Cuối thế kỷ XVIII, J.