Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thi hành án dân sự và pháp luật về thi hành án dân sự Chương 2: Thực trạng công tác thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự và nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 7 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và nội dung của thi hành án dân sự 1.Khái niệm về thi hành án dân sự Xét trong mối quan hệ với quyền lập pháp và quyền hành pháp thì quyền tư pháp thực hiện xoay quanh trục của hoạt động xét xử, là quá trình đi tìm chân lý để áp dụng công lý và phán quyết của sự công bằng theo quy định của pháp luật. Toàn bộ hoạt động điều tra, truy tố và các hoạt động bổ trợ tư pháp khác đều nhằm mục đích phục vụ công tác xét xử để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và của công dân. Song, quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án mới chỉ là những giai đoạn đầu của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Kết thúc giai đoạn xét xử, TA đưa ra những phán quyết về nội dung vụ án, về người vi phạm pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của các bên. Bản án của TA thể hiện quyền lực tối cao của Nhà nước trong việc quản lý xã hội, nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và các chủ thể khác, đảm bảo trật tự xã hội. Chỉ khi những phán quyết, quyết định, bản án của TA được thực thi trên thực tế, thì quyền tư pháp của Nhà nước mới được thực hiện một cách trọn vẹn, công lý mới trở thành hiện thực và trật tự pháp luật mới thực sự được bảo vệ. Chính vì vậy, Điều 106 Hiến pháp 2013 quy định: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.Đây cũng chính là nguyên tắc mang tính chỉ đạo, xuyên suốt trong mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Để bảo đảm tính thượng tôn của pháp luật, đặc biệt trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể nói, vấn đề đảm bảo hiệu lực bản án, quyết định của TA là yêu cầu tất yếu khách quan trong hoạt động Nhà nước, là nguyên tắc hiến định chỉ đạo toàn bộ tổ chức và hoạt động thi hành án của nước ta từ nhiều năm nay. Suốt từ năm 1945 tới nay, công tác THADS luôn được coi là hoạt động của Nhà nước, là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong chức năng đối nội của Nhà nước ta. 8 Kết thúc quá trình giải quyết các tranh chấp về dân sự. TA ra các bản án, quyết định, trong đó xác định các quan hệ pháp lý, sự kiện pháp lý, buộc người phải thi hành án có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc nhiều việc vì lợi ích của người được thi hành án.
Việc thi hành bản án, quyết định của TA là một giai đoạn độc lập, tiếp theo sau giai đoạn xét xử. Theo luật THADS năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014), đối với hoạt động THADS, các nghĩa vụ phải thi hành liên quan đến tiền và tài sản – phần “dân sự” trong các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Hiện nay, vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau khi nói về THADS. Do vậy, khái niệm THADS vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, THADS là một hoạt động tư pháp độc lập với hoạt động tố tụng dân sự (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2007, tr. Theo quan điểm này thì có xét xử sẽ phải có thi hành án. Thi hành án chính là việc củng cố kết quả của công tác xét xử, đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định dân sự của TA nên thi hành án là giai đoạn độc lập với hoạt động tố tụng. Vì vậy, THADS cũng là một hoạt động chấp hành nhưng là chấp hành bản án, quyết định dân sự của TA.
Quan điểm thứ hai cho rằng: THADS là một thủ tục hành chính. Theo đó, quá trình tố tụng chỉ do TA thực hiện(Nguyễn Quang Khải, 2005, tr. Tố tụng là quá trình tiến hành giải quyết các vụ án theo quy định của pháp luật; quá trình này sẽ phải trải qua nhiều giai đoạn, song các giai đoạn ấy lại có mối liên hệ mật thiết với nhau trong một thể thống nhất chung và xét xử là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng. Vì vậy, bản án, quyết định chính là kết quả đánh dấu sự kết thúc của quá trình tố tụng đó.
Quan điểm thứ ba lại cho rằng: THADS là một thủ tục hành chính – tư pháp (Lê Minh Tâm, 2001, tr. Tác giả này cho rằng vì THADS có mục đích và bản chất khác với mục đích và bản chất của tố tụng. Mục đích của tố tụng DS là xác định chứng cứ để lập lại trạng thái ban đầu của sự việc. Với mục đích đó, toàn bộ quá trình tố tụng DS được diễn ra theo một quá trình hết sức chặt chẽ và khi có quyết định giải quyết vụ việc của TA thì quá trình tố tụng DS kết thúc.
Trong khi 9 đó, THADS có mục đích là thực thi bản án, quyết định của TA. Quá trình này do các chủ thể thi hành án tự giác thi hành hoặc do cơ quan có thẩm quyền sử dụng quyền lực Nhà nước bắt buộc thi hành bằng các biện pháp cưỡng chế. Về bản chất, THADS là dạng hoạt động chấp hành, quản lý và tiến hành theo phương pháp hành chính. Vì vậy, THADS phải thuộc chức năng của quyền hành pháp.
Tuy nhiên, THADS cũng là một dạng hoạt động tư pháp vì căn cứ để thi hành án là các bản án, quyết định của TA. Hơn nữa, THADS còn được thực hiện bởi các cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng). Do đó, THADS cần được hiểu là một thủ tục hành chính - tư pháp. Các quan điểm trên xuất phát từ những lý do khác nhau và đều có tính hợp lý.
Tuy nhiên, tác giả ủng hộ quan điểm thứ nhất, theo đó cho rằng, THADS là một hoạt động tư pháp, độc lập với hoạt động tố tụng dân sự. Bởi lẽ, thi hành án cũng có những đặc điểm đặc trưng của hoạt động tố tụng dân sự, như là hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự vì thông qua thi hành án dân sự, các tổ chức, cá nhân có hành vi trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó và thực hiện các nghĩa vụ của mình theo đúng quyết định của TA. Nhờ đó mà quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm phạm được khôi phục, đảm bảo thực hiện mục đích của tố tụng DS là bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bên cạnh đó, THADS còn mang tính độc lập, để đảm bảo việc tổ chức thi hành đúng đắn các bản án, quyết định của TA thì trong quá trình thi hành án các cơ quan THADS và những người chịu trách nhiệm tổ chức thi hành án phải được độc lập với các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác.
Hơn nữa, TA chỉ là một trong những cơ quan tư pháp mà không phải là cơ quan tư pháp duy nhất nên không thể coi THADS là một dạng của hoạt động hành chính vì THADS không do TA tổ chức thực hiện. Từ những phân tích trên đây, tác giả cho rằng: Thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan thi hành án và của các chủ thể khác theo trình tự, thủ tục nhất định nhằm tổ chức thực hiện thi hành án bản án, quyết định theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, nhằm thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của TA trong thực tiễn. Với ý nghĩa là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, chỉ khi nào việc thi hành án 10 được giải quyết xong thì quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công dân mới được đảm bảo, phán quyết của TA mới được thực thi trong thực tiễn đời sống.
Nếu như bản án, quyết định của TA có hiệu lực pháp luật mà không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm chỉnh đồng nghĩa với việc trật tự kỉ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bị xem thường. Để đảm bảo thi hành các bản án, quyết định về “dân sự” nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, pháp luật quy định cơ quan THADS là cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi hành và Chấp hành viên là người có thẩm quyền tổ chức công tác thi hành án. Trong quá trình thi hành án, Chấp hành viên và cơ quan THADS phải thực hiện đúng các trình tự, thủ tục pháp luật quy định, đồng thời đảm bảo quyền tự định đoạt và thỏa thuận của các đương sự. Đặc điểm của thi hành án dân sự Thi hành án dân sự có những đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, THADS là một hoạt động diễn ra sau quá trình xét xử của TA.
Các bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động THADS. Do đó, có thể khẳng định rằng, không có kết quả của hoạt động xét xử thì không thể có hoạt động THADS. Song, THADS là một dạng hoạt động tư pháp, mà không phải là hoạt động tố tụng DS, bởi lẽ xét về mặt bản chất của vấn đề, THADS hoàn toàn khác với tố tụng DS. Bản chất và mục đích của tố tụng DS là xác định sự thật của các vụ việc để trên cơ sở đó giải quyết từng trường hợp theo đúng các quy định của pháp luật.
Toàn bộ quá trình tố tụng DS diễn ra theo một trình tự hết sức chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tắc bình đẳng, công khai, dân chủ, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.