phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu trúc trong 3 chương: Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC - PHÁP LÝ VỀ THANH TRA, KIỂM TRA TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC THANH TRA TOÀN DIỆN TRƢỜNG THPT Ở TỈNH BẮC GIANG Chƣơng 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THANH TRA TOÀN DIỆN TRƢỜNG THPT Ở TỈNH BẮC GIANG 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC - PHÁP LÝ VỀ THANH TRA, KIỂM TRA TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC 1. Một số khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục 1. Quản lý Khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung. Có thể nói, quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung.
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của Nhà xuất bản Giáo dục năm 1998, thuật ngữ quản lý được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Quản lý là một hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý như xác định mục tiêu, các chủ trương, chính sách; hoạch định kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, điều hoà, phối hợp, kiểm tra và huy động, sử dụng các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lực, nhân lực .vv để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định.
Chung quanh khái niệm quản lý còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau: - F.W TayLor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. - Trong tác phẩm “Lý luận quản lý Nhà nước” của Mai Hữu Khuê, xuất bản năm 2003 có định nghĩa về quản lý như sau: “Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên của mọi lao động hiệp tác”. Mác đã coi việc xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại.
Mác đã viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân. Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”. Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa một cách rõ hơn. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đưa ra khái niệm: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra (25.
Quản lý là một quá trình chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý bằng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo kiểm tra, đánh giá, dựa trên những nguồn lực và những điều kiện có thể có nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Như 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vậy quản lý có bốn chức năng cơ bản sau: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo - lãnh đạo và kiểm tra. - Chức năng lập kế hoạch là nền tảng của quản lý, bởi vì đó là việc xây dựng các định hướng và đề ra quyết định tổ chức thực hiện trong thời gian nhất định của tổ chức. Lập kế hoạch bao gồm việc xác định sứ mệnh, mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó dựa trên việc tính toán các nguồn lực, các giải pháp.
Mục đích của việc lập kế hoạch là lựa chọn một đường lối hành động mà một tổ chức nào đó và bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của tổ chức. - Chức năng tiếp theo của quản lý là tổ chức. Tổ chức chính là việc sắp xếp, tuyển chọn xác định một cơ cấu định trước về các vai trò cho từng con người đảm đương trong một cơ sở thông qua việc phân tích công việc, đề ra nhiệm vụ để lựa chọn người vào việc và cả việc tính toán phân bổ nguồn lực khác để xây dựng cơ chế làm việc thích hợp. Đồng thời hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
- Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo) là quá trình chỉ đạo hay tác động của người quản lý đến người bị quản lý, lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Hiển nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia. - Chức năng cuối cùng của quản lý là kiểm tra, đánh giá. Đây là việc đo lường và điều chỉnh các hoạt động của các bộ phận phối thuộc trong tổ chức.
Kiểm tra là quá trình theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động, đánh giá kết quả của việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, hạn chế để điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức và lãnh đạo. Một kết 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn. Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau: + Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động + Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra + Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch + Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần. Trong bốn chức năng trên thì chức năng tổ chức là quan trọng nhất.
Tuy nhiên bốn chức năng này có liên quan mật thiết với nhau và phải được thực hiện liên tiếp và đan xen vào nhau, phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa chu trình quản lý này sang chu trình quản lý khác theo hướng phát triển, trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định quản lý. Chức năng của quản lý có thể mô tả theo sơ đồ sau: (Xem hình 1) Kế hoạch Kiểm tra đánh giá Tổ chức thông tin Chỉ đạo Hình 1. Sơ đồ các chức năng quản lý 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ quan niệm của các học giả đã nêu, PGS. Trần Khánh Đức đã khái quát lại như sau: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất” (29.
Quản lý giáo dục Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người được thực hiện một cách tự giác, nó tồn tại, vận động, phát triển với tư cách là một hệ thống. Theo cách nói của Marx thì “dàn nhạc” giáo dục trong quá trình tồn tại và phát triển tất yếu phải có quản lý giáo dục (nhạc trưởng). Quản lý giáo dục với tư cách là một chuyên ngành khoa học đang phát triển đã trải qua nhiều biến đổi, bổ sung và ngày một phong phú. Về quản lý giáo dục cũng có khá nhiều quan điểm khác nhau được tác giả Nguyễn Quốc Chí đề cập trong cuốn “Những cơ sở của lý luận quản lý giáo dục” như sau: - Quan điểm hiệu quả: Là quan điểm quản lý giáo dục ra đời vào thập niên đầu tiên của thế kỷ, khi xuất phát từ việc áp dụng tư tưởng kinh tế vào quản lý giáo dục.
Theo quan điểm hiệu quả, quản lý giáo dục phải được thực hiện sao cho hiệu số giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống giáo dục phải đạt cực đại. - Quan điểm kết quả: Ra đời vào đầu những năm 20. Cơ sở tư tưởng của quan điểm này là khoa học tâm lý sư phạm. Quan điểm kết quả chú ý đến việc đạt mục tiêu giáo dục nhiều hơn chú ý đến hiệu quả kinh tế của nó.
- Quan điểm đáp ứng: Ra đời vào những năm 60. Cơ sở tư tưởng của quan điểm này là khía cạnh chính trị của giáo dục. Quản lý giáo dục phải hướng tới việc làm cho hệ thống giáo dục phục vụ, đáp ứng các đòi hỏi của sự phát triển đất nước, phát triển xã hội. - Quan điểm phù hợp: Ra đời vào những năm 70.
Cơ sở tư tưởng của quan điểm này là vấn đề văn hoá. Quản lý giáo dục phải đạt được mục tiêu 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển giáo dục trong điều kiện bảo tồn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc (24. Ngày nay giáo dục được gắn với quá trình phát triển xã hội, việc đi học của mỗi người phải là: “ học thường xuyên, học suốt đời ”.