CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Các vấn đề lý luận về nghiệp vụ thanh toán quốc tế: 1. Khái niệm nghiệp vụ thanh toán quốc tế: Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện đại, các mối quan hệ giữa các lĩnh vực kinh tế, thương mại và chính trị ngày càng mở rộng, dẫn đến các khoản thu và chi tiền quốc tế giữa các đối tác ở nhiều quốc gia khác nhau. Các mối quan hệ tiền tệ này ngày càng phong phú và đa dạng.
Chúng, có thể ở trạng thái bội thu hoặc bội chi, góp phần vào tình trạng tài chính của mỗi quốc gia. Thanh toán trong các mối quan hệ quốc tế được thực hiện thông qua các tổ chức trung gian, bao gồm các ngân hàng thương mại và mạng lưới trên toàn cầu, vì các đối tác ở các quốc gia khác nhau và khác nhau về ngôn ngữ và địa lý. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 101/2012/NĐ-CP thì thanh toán quốc tế được quy định như sau: “Thanh toán quốc tế là hoạt động thanh toán trong đó có ít nhất một bên liên quan là tổ chức hoặc cá nhân có tài khoản thanh toán ở ngoài lãnh thổ Việt Nam”. Từ đó có thể thấy, bốn phương thức thanh toán chính được sử dụng trong thương mại quốc tế: đầu tiên là mở tài khoản, nghĩa là tiền mặt đối với hàng hóa; hai là thanh toán tạm ứng, nghĩa là trả trước; ba là hóa đơn nhờ thu, nghĩa là thu hộ chứng từ; và bốn là thư yêu cầu thu hộ.
tín dụng chứng từ. Các phương thức thanh toán này nhằm mục đích cân bằng các lợi ích kinh tế tranh chấp giữa các bên tham gia giao dịch quốc tế. Các nguyên tắc trong hoạt động thanh toán quốc tế: Để có sự công bằng trong quyền lợi của các bên tham gia trong quan hệ thanh toán quốc tế của các NHTM, các điều kiện như tiền tệ, địa điểm, thời gian và phương thức thanh toán phải được đặt ra để các bên tham gia tuân theo.1 Điều kiện về tiền tệ: Hoạt động ngoại thương xảy ra khi các bên tham gia sử dụng ít nhất hai loại loại tiền tệ khác biệt và người xuất khẩu và người nhập khẩu có mục tiêu tiền tệ riêng biệt. Do đó, trong quan hệ ngoại thương, những điều kiện tiền tệ thanh toán là cần thiết cho các bên tham gia.
Những điều kiện mà hai bên thỏa thuận bao gồm việc sử dụng đồng 2 tiền nào để tính toán và thanh toán, cũng như cách thực hiện khi sức mua của đồng tiền thay đổi, được gọi là điều kiện tiền tệ. Đồng tiền tính toán được sử dụng để đánh giá giá cả và xác định giá trị hợp đồng mua bán. Nó là tiền tệ của một quốc gia nhập khẩu, nước xuất khẩu hoặc quốc gia thứ ba. Nhưng để đảm bảo giá trị hợp đồng vững chắc, hai bên thường thỏa thuận sử dụng tiền có tính tương đối ổn định.
Đồng tiền thanh toán được sử dụng để trả nợ hoặc hợp đồng giữa hai bên. Các quốc gia xuất khẩu thường thích thanh toán bằng đồng tiền mạnh hoặc đồng tiền tự do chuyển đổi, trong khi quốc gia nhập khẩu thích thanh toán bằng đồng tiền sẵn có hoặc đồng tiền của chính nước mình để giảm rủi ro tỷ giá. Điều kiện về nơi thanh toán: Quy định này chỉ ra việc thanh toán được xảy ra ở nước xuất khẩu, nước nhập khẩu hoặc một nước thứ ba mà hai bên chọn. Các quốc gia đều muốn sử dụng nước mình làm địa điểm thanh toán quốc tế vì những lý do như thu tiền tiện lợi và lợi nhuận ngân hàng.
Điều kiện về thời gian thanh toán: Ba cách thanh toán ngoại thương có thể được thỏa thuận: trả trước, trả ngay hoặc trả sau. Thứ nhất, trả trước: Trước khi hàng hoá được nhận, bên nhập khẩu phải trả cho bên xuất khẩu một phần hoặc toàn bộ tiền. Mục đích trả trước là ràng buộc người nhập khẩu phải thực hiện hợp đồng hoặc cung cấp cho người xuất khẩu tín dụng thương mại ngắn hạn. Thứ hai, trả ngay: Trong khoảng thời gian từ khi chuẩn bị giao hàng đến khi hàng được giao đúng nơi quy định, người mua phải trả tiền cho người bán ngay khi người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng.
Thứ ba, trả sau: Khi người mua trả tiền cho người bán sau một khoảng thời gian nhất định kể từ sau thời gian 2 bên trao đổi hàng hoá với nhau. Điều hiện về phương thức thanh toán: Phương thức thanh toán đề cập đến cách người mua chi trả và người bán thu tiền. Trong buôn bán quốc tế, có nhiều phương thức thanh toán khác nhau, vì vậy hai bên cần thỏa thuận một phương thức cụ thể. Có thể sử dụng phương thức chuyển tiền, phương 3 thức nhờ thu, phương thức tíndụng chứng từ hoặc phương thức ghi sổ.
Lựa chọn phương thức nào cũng phụ thuộc vào mục tiêu của hai bên và khả năng thương lượng của họ. Các phương thức thanh toán quốc tế cơ bản của ngân hàng thương mại; 1. Phương thức chuyển tiền bằng điện: a) Khái niệm và đặc điểm chung: "Telegraphic Transfer" có nghĩa là chuyển tiền bằng điện. Phương thức TTQT này cho phép ngân hàng chuyển một số tiền cho bên xuất khẩu bằng cách chuyển tiền điện Swift hoặc Telex cho bên nhập khẩu dưới sự chỉ dẫn đồng ý của NNK.
Các phương thức “thanh toán T/T” bao gồm: Thanh toán vào ngày thứ a: Đây là phương thức giao dịch kém an toàn nhất đối với người bán/ NXK, nhưng hấp dẫn nhất đối với người mua. Trong trường hợp này, người bán gửi hàng hóa và các hóa đơn khác cho người mua để họ yêu cầu họ trả tiền. Số tiền đã được thỏa thuận vào ngày chỉ định được ghi vào tài khoản của NXK. Nói cách khác, người mua gửi hàng cho NXK mà không cần phải trả tiền trong một khoảng thời gian nhất định.
Do đó, PTTT này không cung cấp cho NXK bất kỳ bảo vệ thanh toán nào cả, vì vậy nó chỉ được sử dụng cho các giao dịch nhỏ hoặc khi NXK không nghi ngờ gì về khả năng trả nợ của người mua hoặc sự sẵn sàng trả tiền của người mua. PTTT này hoạt động tốt nếu các bên biết rõ về nhau. Thanh toán trả trước: thanh toán bằng điện chuyển tiền trả trước: NXK dự kiến sẽ thanh toán đầy đủ trước khi hàng hóa được vận chuyển. Vì vậy, NXK có thể nhận được khoản thanh toán đầy đủ trước khi giao hàng hàng hóa cho NNK.
Vì vậy có thể nói việc trả trước là phương thức giao dịch an toàn nhất đối với các NXK và do đó kém hấp dẫn nhất đối với các NNK. Thanh toán trả ngay: thanh toán bằng điện chuyển tiền trả ngay, NNK chuyển tiền ngay khi NXK giao hàng, nhận bộ chứng từ và nhận hàng. b) Quy trình chuyển tiền bằng điện: Các bước cơ bản cần phải xuất hiện trong quy trình chuyển tiền bằng điện(“Telegraphic transfer”): 4 (3) Ngân hàng Ngân hàng chuyển tiền Nhận tiền (2) (4) (1) Người nhập khẩu Người xuất khẩu Sơ đồ 1. Sơ đồ quy trình thanh toán chuyển tiền bằng điện (1) Người xuất khẩu thực hiện nghĩa vụ được đề cập trong hiệp định, hợp đồng hoặc thỏa thuận về việc vận chuyển hàng hoá cho bên mua.
(2) Người chuyển tiền ra lệnh cho NH của quốc gia mình chuyển tiền ra nước ngoài nếu đồng ý với chứng từ hàng hoá. NH chuyển tiền báo nợ tài khoản của NH trả tiền. (3) Lệnh thanh toán được phát hành bởi NH chuyển tiền cho NH trả tiền ở quốc gia người thụ hưởng. (4) Tài khoản người thụ hưởng được ghi có bởi NH nhận tiền đại diện cho họ.
Các bên liên quan gồm có: Người chuyển tiền, còn được gọi là người mua, là người chịu trách nhiệm nghĩa vụ thanh toán cho NXK. Để thực hiện chuyển khoản, người chuyển tiền sẽ cung cấp cho NH chuyển tiền thông tin tài khoản NH của mình. Người thụ hưởng, còn được gọi là NXK, là bên bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ và nhận tiền từ NNK. Để thực hiện chuyển khoản, người thụ hưởng sẽ cung cấp cho người mua thông tin tài khoản NH của mình.
NH chuyển tiền: Đây là NH đại diện cho NNK và tiền sẽ được chuyển từ tài khoản của người mua sang tài khoản của người bán. Trước khi thực hiện giao dịch, NH chuyển tiền sẽ kiểm tra thông tin của người mua cũng như số tiền chuyển khoản. NH thanh toán: là NH đại diện cho bên bán và nhận tiền từ NH chuyển tiền. Sau khi được NH chuyển tiền thông báo, thì chịu trách nhiệm chuyển tiền cho người bán.
Người bán sẽ được thông báo bởi NH thanh toán khi tiền được chuyển vào tài khoản của họ. Phương thức nhờ thu: Để thu tiền thanh toán từ người mua nước ngoài bằng cách nhờ thu kèm chứng từ, người bán sẽ gửi một hối phiếu hoặc yêu cầu thanh toán bằng hình thức khác kèm theo chứng từ vận chuyển liên quan qua ngân hàng kênh tới ngân hàng của người mua. Trong thuật ngữ của tài liệu thương mại quốc tế được gọi là hối phiếu hoặc hối phiếu. Nhờ thu là lời hứa nhập khẩu vô điều kiện và nhu cầu chính thức người xuất khẩu thanh toán cho hàng hóa được giao hoặc dịch vụ được cung cấp.
Nhà xuất khẩu ít được bảo vệ bởi hối phiếu, hơn là bằng thư tín dụng, bởi vì các ngân hàng không có nghĩa vụ phải thanh toán theo yêu cầu của người mua. Có hai loại nhờ thu kèm chứng từ (D/P) và nhờ thu trả chậm (D/A). Nếu ngân hàng của người mua không giải phóng chứng từ cho người mua cho đến khi người mua thanh toán hối phiếu, hình thức nhờ thu chứng từ này được thực hiện. Còn nếu lô hàng được thực hiện theo hối phiếu có kỳ hạn, người xuất khẩu sẽ yêu cầu ngân hàng của người mua xuất trình bộ chứng từ khi NNK chấp nhận hối phiếu.
Phương thức thanh toán này được gọi D/A. Ưu điểm trong phương thức giao dịch này là người mua có thể nhận được hàng hóa trước khi thanh toán. Người yêu cầu mở đơn thanh toán nhờ thu: Thường là NXK. Ngân hàng nhờ thu: Là ngân hàng nhận được yêu cầu nhờ thu của NXK và chuyển yêu cầu nhờ thu đó tới ngân hàng có quan hệ đại lý hay ngân hàng đại diện cho NNK.
Ngân hàng thu hộ: Đa số ngân hàng thu hộ có mối quan hệ ngân hàng đại lý với ngân hàng nhờ thu và sẽ thực hiện nghiệp vụ thu tiền hộ như theo yêu cầu trong chỉ thị nhờ thu NH xuất trình: Nếu NNK có mở tài khoản với NH thu hộ, NH thu hộ sẽ cung cấp cho người trả tiền nhờ thu trực tiếp. Lúc này, NH thu hộ và NH xuất trình là một.