CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Khái niệm tài sản theo chuẩn mực kế toán quốc tế Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 1 - Chuẩn mực chung, tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có khả năng mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp. Để được ghi nhận là tài sản, nguồn lực cần thỏa mãn các tiêu chí sau: - Doanh nghiệp kiểm soát nguồn lực đó. - Nguồn lực đó có khả năng mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp. - Nguồn lực đó có giá trị có thể đo lường được.
Khái niệm tài sản theo chuẩn mực kế toán Việt Nam Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) 01 - Chuẩn mực chung, tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có khả năng mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp. Để được ghi nhận là tài sản, nguồn lực cần thỏa mãn các tiêu chí sau: - Doanh nghiệp kiểm soát nguồn lực đó. - Nguồn lực đó có khả năng mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp. - Nguồn lực đó có giá trị có thể đo lường được.
Khái niệm tài sản ngắn hạn Tài sản là khái niệm gọi chung cho của cải, vật chất được dùng vào mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng mục tiêu quan trọng nhất đó là tối đa hóa giá trị tài sản thuộc chủ sở hữu. Tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, mỗi loại tài sản chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu tài chính của doanh nghiệp. Tài sản dài hạn có đặc điểm là tốc độ thu hồi vốn chậm, khi kết thúc thời hạn tính khấu hao thì thu hồi toàn bộ vốn đầu tư. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, tài sản dài hạn có thời gian sử dụng, luân chuyển hoặc thu hồi dài hơn 1 năm và giá trị lớn hơn 30 triệu đồng, còn lại là tài sản ngắn hạn.
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp cần trang bị đầy đủ ba yếu tố: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động nhằm thực hiện các hoạt động sản 1 xuất kinh doanh để tạo ra hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần có tài sản ngắn hạn, lượng tiền cung ứng trước để đáp ứng nhu cầu về tài sản ngắn hạn, Tài sản ngắn hạn được luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán có tính thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ hàng tồn kho. - Đơn vị có quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát và sử dụng trong thời gian dài - Có giá phí xác định - Chắc chắn thu được lợi ích trong tương lai từ việc sử dụng các nguồn lực này Do vậy, có thể hiểu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc một năm.
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật dưới dạng đầu tư ngắn hạn hoặc cá nhân nợ phải thu. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm vốn bằng tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn khác. Chúng có thời hạn sử dụng, luân chuyển hoặc thu hồi dưới 1 năm và giá trị nhỏ hơn 30 triệu VNĐ 1.2 Đặc điểm tài sản ngắn hạn Việc quản lý và sử dụng hợp lý các loại tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng rất lớn đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, 2 doanh nghiệp phải biết rõ số lượng, giá trị mỗi loại tài sản ngắn hạn là bao nhiêu cho hợp lý và đạt hiệu quả sử dụng cao nhất.
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ - sản xuất - lưu thông quá trình này gọi là quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tài sản ngắn hạn. Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh tài sản ngắn hạn lại thay đổi hình thái biểu hiện. Tài sản ngắn hạn chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Như vậy, sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì tài sản ngắn hạn hòa thành 1 vòng chu chuyển.
Tài sản ngắn hạn là một phần không thể thiếu và được luân chuyển thường xuyên trong quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất 2 Thư viện ĐH Thăng Long kinh doanh của doanh với tư cách là đối tượng lao động hoặc tư liệu lao động góp phần duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục và không bị gián đoạn. Tài sản ngắn hạn thường có thời gian sử dụng ngắn thường hết một chu kỳ sản xuất kinh doanh hoặc dưới một năm. Tài sản ngắn hạn được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định tránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ nên đáp ứng được khả năng thanh toán của doanh nghiệp mà không chịu chi phí lớn.
Tuy nhiên, điều này lại gây khó khăn cho quản lý, chống thất thoát. Không như đầu tư vào tài sản cố định, các khoản đầu tư cho tài sản ngắn hạn thường có thể hủy bỏ bất cứ thời điểm nào mà không phải chịu chi phí tốn kém. Điều đó có được là do, tài sản ngắn hạn phải đáp ứng nhanh chóng sự biến động của doanh số và sản xuất. Đổi lại, tài sản ngắn hạn thường chịu sự lệ thuộc khá nhiều vào những dao động mang tính mùa vụ và chu kỳ trong kinh doanh.3 Phân loại tài sản ngắn hạn Trong quá trình quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có sự phân loại những tài sản ngắn hạn mà mình có tùy theo yêu cầu quản lý và những tính chất vận động của tài sản ngắn hạn, từ đó có những phương pháp quản lý phù hợp, mang lại hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng.
Phân loại theo quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn Dựa theo quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, tài sản được chia thành 3 loại: - Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán. - Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu sản xuất của doanh nghiệp bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các loại chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các 3 khoản chi phí phục vụ cho quá trình sản xuất… - Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, các khoản nợ phải thu khách hàng… Cách phân chia này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được từng nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển tài sản ngắn hạn để đưa biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng một cách hợp lý. Đặc biệt tại khâu lưu thông khi tỷ trọng TSNH trong khâu này tăng lên có nghĩa là doanh nghiệp đang bị ứ đọng vốn. Phân loại theo hình thái biểu hiện Dựa theo tính thanh khoản, tài sản ngắn hạn được chia làm 5 loại: - Tiền bao gồm tiền gửi ngân hàng là toàn bộ số tiền doanh nghiệp gửi tại các ngân hàng, kho bạc nhà nước và các tổ chức tài chính.
Tiền gửi ngân hàng phục vụ cho việc thanh toán của doanh nghiệp trở nên thuận tiện hơn. Ngoài ra, còn tránh được việc mất mát cũng như được hưởng một khoản lãi. Tiền đang chuyển đây là khoản tiền doanh nghiệp đã nộp vào ngân hàng, kho bạc, các tổ chức tài chính nhưng chưa nhận được giấy báo có. - Đầu tư tài chính ngắn hạn: bao gồm các chứng khoán ngắn hạn, các khoản đầu tư ngắn hạn khác, các khoản dự phòng đầu tư ngắn hạn… Đây là nguồn tài sản vừa có tính thanh khoản cao, vừa có tính sinh lời.
Khi có nhu cầu thanh toán mà tiền không đáp ứng đủ thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này. - Hàng tồn kho: Là những tài sản được giữ để bán trong quá trình kinh doanh hoặc những nguyên vật liệu đang trong quá trình sản xuất dở dang. Hàng tồn kho bao gồm: Hàng mua về để bán, thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán, nguyên vật liệu công cụ dụng cụ tồn kho, dự phòng hàng tồn kho giảm giá, sản phẩm kinh doanh dở dang. - Các khoản phải thu: Đây là các khoản mà doanh nghiệp bị tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp khác chiếm dụng.
Các khoản này bao gồm: Phải thu khách hàng, ứng trước cho người bán, phải thu khác, dự phòng khoản phải thu khó đòi. - Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm tạm ứng, chi phí trả trước và thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn… Đây là cách phân loại dựa trên khả năng huy động cho việc thanh toán và được thể hiện rõ ràng trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ các khoản 4 Thư viện ĐH Thăng Long mục trên trong bảng cân đối kế toán. Vì vậy, các doanh nghiệp xác định được chính xác cách phân loại, phù hợp với mình sẽ mang lại hiệu quả sử dụng cao hơn, có ưu thế trong việc gìn giữ và quản lý, sử dụng tài sản.