PHẦN MỞ ĐẦU 6. Tính cấp thiết của đề tài Hàng hóa vật chất và hàng hóa dịch vụ, tương ứng còn gọi là hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình là hai yếu tố cấu của các sản phẩm hàng hóa được sản xuất và trao đổi trong nền kinh tế thị trường. Xu hướng phát triển của kinh tế trên thế giới trong thời gian gần đây cho thấy tỷ trọng giá trị hàng hóa dịch vụ hay hàng hóa vô hình đóng góp ngày càng nhiều hơn trong GDP của các quốc gia. Điều này không chỉ cho thấy vai trò quan trọng của lĩnh vực cung cấp dịch vụ mà còn thể hiện xu hướng tiêu dùng và sự cải thiện về đời sống xã hội ở các nước.
Trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ, các dịch vụ giải trí và nhất là hoạt động giải trí có thưởng như xổ số cũng đã góp phần quan trọng vào xu hướng nói trên. Hoạt động của công ty xổ số vừa thu hút thêm nguồn vốn cho ngân sách nhà nước để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp y tế, giáo dục, phúc lợi công cộng. Giống như mọi loại hình doanh nghiệp khác, trong quá trình hoạt động kinh doanh cung cấp dịch vụ giải trí, các công ty xổ số cũng cần phải có vốn và sử dụng vốn một cách hiệu quả để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề rất quan trọng giúp các doanh nghiệp nói chung và các công ty xổ số nói riêng có khả năng gia tăng thu nhập, tăng cường năng lực hoạt động kinh doanh, thu hút khách hàng tham gia.
để có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với áp lực cạnh tranh gay gắt từ những loại hình kinh doanh dịch vụ giải trí khác. Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, trong thời gian qua Công ty xổ số kiến thiết Điện Biên đã rất cố gắng triển khai áp dụng các biện pháp để có thể sử dụng vốn hiệu quả và tiết kiệm hơn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của Công ty vẫn còn chưa cao do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau thể hiện ở chỗ Công ty chưa khai thác và phát huy triệt để những tiềm năng và các nguồn lực phát triển. Xuất phát từ tình hình thực tiễn đó, đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty xổ số kiến thiết Điện Biên” được lựa chọn để nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu - Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. - Phân tích và đánh giá thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty xổ số kiến thiết Điện Biên. - Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty xổ số kiến thiết Điện Biên 8. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: tình hình sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty xổ số kiến thiết Điện Biên Phạm vi nghiên cứu: hoạt động sử dụng vốn, với điển hình nghiên cứu là hoạt động sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty xổ số kiến thiết Điện Biên với hệ thống số liệu và tài liệu được thu thập và xử lý trong giai đoạn 2011-2013.
Phương pháp nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, các phương pháp nghiên cứu khoa học được sử dụng trong luận văn bao gồm: Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp thông kê, mô phỏng và lượng hoá, phương pháp chuyên gia, v. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp tại Công ty xổ số kiến thiết Điện Biên Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp tại Công ty xổ số kiến thiết Điện Biên 3 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về vốn của doanh nghiệp 1. Khái quát về doanh nghiệp 1.
Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là khái niệm chung chỉ các tổ chức, đơn vị kinh tế. Các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực khác nhau, do đó có thể đáp ứng nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ cho tất cả cá nhân và các doanh nghiệp để duy trì hoạt động của nền kinh tế. Vì vậy, sự ổn định và phát triển của nền kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào ổn định của quá trình sản xuất kinh doanh và phát triển của các doanh nghiệp. Ở nhiều nước trên thế giới, doanh nghiệp được quan niệm“ là tổ chức của một nhóm người đăng ký hoạt động sản xuất kinh doanh trên một lĩnh vực nhất định nào đó nhằm mục đích lợi nhuận”.
Như vậy, cơ sở sản xuất kinh doanh của một người không được coi là doanh nghiệp, doanh nghiệp là một tổ chức của nhiều người: có bộ máy quản lý, có vốn riêng, có quyết định thành lập do cơ quan thẩm quyền của Nhà nước cấp, có giấy phép đăng ký kinh doanh và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo giấy phép. Ở Việt Nam, “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” (Luật doanh nghiệp). Trong nền kinh tế thị trường, do các quan hệ về cung cầu hàng hoá, vốn, sức lao động, thông tin và các yếu tố khác rất phát triển nên các doanh nghiệp cũng hết sức đa dạng và phong phú. Các doanh nghiệp có thể được phân biệt thành rất nhiều loại hình khác nhau tùy theo từng tiêu thức tiếp cận nghiên cứu: 4 1.
Phân loại doanh nghiệp Căn cứ vào quan hệ sở hữu, các doanh nghiệp có thể được phân chia thành: Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN): là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập và thuộc sở hữu Nhà nước. Vốn chủ sở hữu của DNNN do Nhà nước cấp, Nhà nước chịu trách nhiệm vô hạn với hoạt động sản xuất kinh doanh của loại hình doanh nghiệp này. Nhà nước thực hiện việc tổ chức quản lý, vận hành hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ. Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp thuộc sở hữu của một cá nhân hay có do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về tình trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Công ty trách nhiệm hữu hạn: là một loại loại hình doanh nghiệp sở hữu bởi một nhóm thành viên có trách nhiệm hữu hạn đối với toàn bộ hoạt động của công ty bằng số vốn góp hay bằng một số tiền nhất định ghi trong điều lệ công ty. Công ty cổ phần: là công ty trách nhiệm hữu hạn được sở hữu bởi các cổ đông, là những người mua cổ phần để hình thành nguồn vốn chủ sở hữu. So với công ty trách nhiệm hữu hạn, các công ty cổ phần có quy mô và phạm vi hoạt động lớn hơn và trong quá trình hoạt động công ty cổ phần có thể phát hành thêm cổ phiếu để gọi vốn cũng như phát hành thêm trái phiếu để huy động vốn. Công ty hợp danh: là loại doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên hợp danh, chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ về công ty.
Ngoài ra có thể có thành viên góp vốn nhưng không được tham gia quản lý và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn góp. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: là doanh nghiệp như các công ty liên doanh và các công ty có 100% vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài được thành lập và hoạt động theo luật đầu tư nước ngoài. Căn cứ vào lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp có thể được phân chia thành: Các doanh nghiệp sản xuất vật chất: Là những doanh nghiệp có đối tượng 5 sản xuất là hàng hoá có hình thức tồn tại vật chất cụ thể, quá trình sản xuất của những doanh nghiệp này là tác động vào đối tượng lao động để biến đối tượng lao động thành hàng hoá. Đặc điểm cơ bản của những doanh nghiệp này là chu kỳ sản xuất kinh doanh dài, vốn luân chuyển qua tất cả các khâu từ dự trữ - sản xuất - lưu thông - phân phối.
Các doanh nghiệp thuộc loại hình này có thể chia thành hai nhóm: (1) doanh nghiệp sản xuất công nghiệp; và (2) các doanh nghiệp nông nghiệp. Sự khác nhau của hai nhóm này chính là mức độ ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên và tính mùa vụ. Các doanh nghiệp trong lưu thông phân phối: Là những doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá, luân chuyển hàng hoá từ những doanh nghiệp sản xuất đến người tiêu dùng, kể cả tiêu dùng cho sản xuất. Khác với loại hình sản xuất vật chất các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực này hầu như không làm tăng giá trị hàng hoá và, tốc độ quay vòng vốn nhanh hơn, v.
Vai trò cơ bản của các doanh nghiệp này là thúc đẩy chu chuyển hàng hoá và tiền tệ, rút ngắn chu kỳ sản xuất và thời gian tiêu thụ hàng hoá cho các doanh nghiệp sản xuất vật chất. Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ: Là những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh mang tính chất phục vụ, hỗ trợ cho đời sống và quá trình sản xuất xã hội như: ngân hàng, bảo hiểm, thời trang, tư vấn pháp luật, v.