Chương 1 sẽ cung cấp những thông tin để người đọc có một cái nhìn toàn cảnh về hoạt động đầu tư tài chính, các chương sau đó sẽ đi chi tiết hơn vào từng công cụ đầu tư cụ thể.1 Khái niệm đầu tư tài chính Theo từ điển của Đại học Cambridge, đầu tư tài chính là quá trình sử dụng tiền “nhàn rỗi” 1 1 nhằm đầu tư vào các loại chứng khoán, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, ngoại hối (forex), hoặc 1 bất động sản,…với mục đích làm gia tăng thu nhập. Quan trọng hơn, một số hình thức đầu tư phổ biến sẽ đưa đến “tiền đẻ ra tiền” một cách gián tiếp mà người đầu tư không cần phải trực 1 tiếp tham gia vào các hoạt động kinh doanh hay bất cứ hình thức lao động nào khác. Ở một số 1 1 1 hình thức đặc thù khác, nhà đầu tư cũng có thể kỳ vọng sẽ nhận được lợi nhuận cao trong tương lai khi đầu tư dài hạn vào một tài sản nào đó. 1 Ngoài ra, chúng ta có thể tham khảo một số định nghĩa có giá trị khác về đầu tư như sau: Đầu tư là một phương pháp mua tài sản để kiếm lợi nhuận dưới hình thức thu nhập có thể dự đoán một cách hợp lý (như cổ tức, trái tức hoặc lợi tức cho thuê) và/hoặc giá trị đầu tư sẽ tăng lên sau một thời gian dài1.
Đầu tư là việc chấp nhận sử dụng tiền hoặc các nguồn lực khác ở hiện tại với kỳ vọng thu về các lợi ích trong tương lai2. Đầu tư là một hoạt động dựa trên sự phân tích cẩn thận, hứa hẹn sự an toàn hợp lý và mang về một khoản lợi nhuận thoả đáng3. Quá trình đầu tư gần giống như chờ sơn khô hoặc cỏ mọc. Nếu bạn thấy cần cảm giác phấn khích, hãy cầm 800 đô la Mỹ mà đến Las Vegas4.
Tổng hợp các quản điểm đầu tư nêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về đầu tư trong tài liệu tham khảo này như sau: Đầu tư tài chính là một kế hoạch tài chính dài hạn, theo đó nhà đầu tư sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư các công cụ tài chính phù hợp, dựa trên sự phân tích cẩn thận, với một mức độ chấp nhận rủi ro hợp lý để thu về một khoản lợi nhuận thoả đáng nhằm đạt được mục tiêu tài chính của mình. Theo Graham: “Cách tốt nhất để đo sự thành công đầu tư của bản thân không phải xem bạn có thắng thị trường hay không, mà bạn đã thực hiện được một kế hoạch tài chính và kỷ luật hành vi có thể đưa bạn đến nơi bạn cần đến”5. Ngược với với đầu tư, chúng ta có khái niệm đầu cơ. Rất nhiều người tham gia trên thị thường tài chính sử dụng nhầm lẫn giữa hai thuật ngữ này; vì vậy, việc phân biệt chúng là điều cần thiết.
Đầu cơ là hoạt động hướng đến rủi ro cao thường thông qua việc tận dụng các đợt biến động giá cả của các công cụ tài chính để đạt được kỳ vọng lợi nhuận cao. A random walk down Wall Street. 2 Bodie, Kane & Alan (2013). McGraw-Hill company.
4 Theo Paul Samuelson (đăng tại Forbes Việt Nam, tháng 7/2015) 5 Graham, B. The intelligent investor. New York, USA: Harper Business Essentials. 1 Theo Graham (2003), “Khác biệt cơ bản giữa nhà đầu tư và nhà đầu cơ là ở thái độ của họ với các biến động của thị trường.
Mối quan tâm chủ yếu của nhà đầu cơ là dự đoán và thu lợi từ những biến động của thị trường. Mối quan tâm của nhà đầu tư là mua giữ những chứng khoán tốt với mức giá phù hợp. Các dao động của thị trường có ý nghĩa với anh ta khi chúng luân phiên tạo ra các mức giá thấp mà anh ta có thể mua một cách thông minh và các mức giá cao mà anh ta nên ngừng mua và có thể bán đi một cách thông minh” Đầu cơ không phải là hoạt động vi phạm pháp luật hoặc đạo đức; ở một góc nhìn tích cực, đầu cơ giúp nâng cao tính thanh khoản cho thị trường, làm cho việc mua bán cổ phiếu của các nhà đầu tư trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, chúng ta cần tránh các trạng thái đầu cơ sau đây có thể mang lại thua lỗ lớn: 1.
Bản chất là đầu cơ nhưng lại tự “ám thị” mình là đầu tư; 2. Coi bản thân là nhà đầu cơ, nhưng không trang bị những kiến thức và kỹ năng đầu cơ cần thiết; và 3. Đầu cơ nhiều tiền hơn khả năng chịu đựng của bản thân khi xảy ra rủi ro6. Lý do hiện nay đầu tư tài chính thu hút sự chú ý của nhiều người vì: Thứ nhất, đây là công cụ có thể phòng ngừa sự mất giá của đồng tiền do lạm phát.
Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế đối mặt với lạm phát cao, diễn ra trong thời gian dài nhất định sẽ khiến đồng tiền bị mất giá theo thời gian. Tất nhiên, một khi đồng tiền bị mất giá mà nhà đầu tư không gia tăng được tài sản của mình thì có nghĩa là tài sản sẽ bị bào mòn bởi lạm phát. Lý do thứ hai hỗ trợ lý do ban đầu, đầu tư tạo ra cơ hội sinh lời. Dựa trên kinh nghiệm, sự hiểu biết và kiến thức của nhà đầu tư trong một lĩnh vực nào đó mà họ có thể tự tin mang tiền đầu tư vào lĩnh vực này nhằm mang lại lợi nhuận với mức rủi ro thấp nhất.
Lý do thứ ba, đầu tư còn là hình thức tạo ra thu nhập thụ động. Điều đó có nghĩa nhà đầu tư dành thời gian tìm hiểu và nghiên cứu kỹ lưỡng hoạt động đầu tư, sau đó, sẽ quyết định giải ngân vốn; quá trình này sẽ tốn nhiều thời gian, nhưng về sau, khi nhà đầu tư đã quen và thực hiện đúng hướng thì dòng tiền sẽ tự vận hành theo quy trình đã được thiết lập và tạo ra nguồn thu nhập thụ động cho nhà đầu tư. Lúc này nhà đầu tư chỉ cần giám sát khoản đầu tư đó định kỳ. Lý do thứ tư, đầu tư tài chính là công cụ để hỗ trợ cá nhân đạt được các mục tiêu tài chính (ví dụ tự do tài chính) bằng cách tận dụng lợi thế của lợi nhuận kép hàng năm (compound interest).
Albert Einstein từng nói: “Lãi suất kép là kỳ quan thứ 8 trong thế giới này. Những ai hiểu nó, vận dụng nó sẽ chẳng phải trả gì cho nó cả”. Điểm mấu chốt của lãi suất kép là thời gian và lãi suất, qua vài năm đầu có thể sẽ không thấy gì khác biệt nhưng sau khoảng 20, 30 năm, số tiền sản sinh ra sẽ thực sự lớn. Ví dụ: Năm nay bạn 22 tuổi, mỗi tháng bạn để dành được 5 triệu VND tiền nhàn rỗi.
Bạn đầu tư số tiền đó liên tục vào cổ phiếu và đạt tỷ suất lợi nhuận 15%/năm. Bạn duy trì việc tiết kiệm hàng tháng và đều đặn đầu tư như vậy trong suốt 20 năm, cho tới khi 42 tuổi. Sau 20 năm bạn sẽ có 7,128. Còn nếu bạn tiếp tục đầu tư tiếp đến khi bạn 52 tuổi bạn sẽ có 30,057,415,100 VND, nếu tiếp tục đầu tư đến năm 62 tuổi số tiền sẽ là 122,817,231,268 VND.
Cuối cùng, thông qua đầu tư tài chính nguồn vốn trong xã hội sẽ được sử dụng tối ưu, các doanh nghiệp thiếu vốn có thể huy động vốn để đầu tư vào các dự án tạo thêm giá trị gia tăng cho xã hội, tạo công ăn việc làm và tăng trưởng GDP.2 Các loại hình đầu tư tài chính phổ biến Thị trường tài chính thế giới đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm nên tồn tại rất nhiều loại hình đầu tư, bao gồm: 6 Graham, B. The intelligent investor. New York, USA: Harper Business Essentials. 2 Các công cụ trên thị trường tiền tệ hoặc tương đương tiền như chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, thương phiếu, hối phiếu, ngoại hối, vàng … Các chứng khoán có thu nhập cố định (fixed income) như các loại trái phiếu; Chứng khoán vốn như cổ phiếu, vốn đầu tư tư nhân (private equity), đầu tư vào các quỹ đầu tư (mutual funds) … Chứng khoán phái sinh như quyền chọn, hợp đồng tương lai … Ngoài ra, còn có một số loại hình đầu tư tài chính khác như: quỹ tín thác bất động sản (real estate investment trust, REIT), quỹ phòng hộ (hegde fund), các hợp đồng hàng hóa (commodities), các loại tiền mã hoá phi pháp định (cryptocurrency), các sản phẩm tái cấu trúc (CDO, CDS…) … Bên cạnh các hình thức đầu tư tài chình, chúng ta có thể tham gia vào các hoạt động đầu tư phi tài chính như bất động sản, vàng vật chất, tác phẩm nghệ thuật, tài sản kỹ thuật số, cổ vật … Trong những năm gần đây thị trường tài chính Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc và nhiều sản phẩm đầu tư được triển khai.
Điều này khiến nhà đầu tư có rất nhiều lựa chọn để đầu tư và xây dựng tài sản cho bản thân. Chúng ta có thể điểm qua những hình thức đầu tư tài chính phổ biến nhất trên thị trường Việt Nam bao gồm: 1. Gửi tiết kiệm Gửi tiết kiệm được coi là kênh đầu tư truyền thống tại Việt Nam vì có lợi nhuận ổn định, không xảy ra thua lỗ, mức sinh lời không hề cao nhưng tồn tại rủi ro tiền bị mất giá do lạm phát. Nhìn chung, đây là kênh đầu tư an toàn nhất và thanh khoản cao nhất; vì vậy, kênh này được đa phần người dân lựa chọn.
Tuy nhiên, trong một xu thế lãi suất giảm dần thì hình thức này không còn duy trì được tính hấp dẫn của nó nữa. Đầu tư cổ phiếu Đây là kênh đầu tư tuy không yêu cầu vốn lớn nhưng lại đòi hỏi nhà đầu tư phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng, mức độ chấp nhận rủi ro tương đối cao, và kênh đầu tư này có tính thanh khoản tương đối cao. Đa phần nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường cổ phiếu bằng cách mua cổ phiếu tại giá thấp, và sau đó bán lại giá cao hơn hoặc nắm giữ để hưởng cổ tức từ cổ phiếu, nhà đầu tư sẽ thu được thành quả là khối tài sản gia tăng về giá trị. Đây là hình thức đầu tư tiềm ẩn rất nhiều rủi ro khi giá cổ phiếu liên tục biến động khiến nhà đầu tư bị thiệt hại về giá trị nhưng đi kèm với đó là tỷ suất lợi nhuận cũng tương đối lớn.
Đầu tư trái phiếu Trái phiếu đã xuất hiện ở Việt Nam từ khi chính quyền thực dân Pháp đô hộ dưới hình thức phát hành công trái.