Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ BÁN ĐẤU GIÁ TÀ I SẢN 1. Cơ sở lý luận về bán đấu giá tài sản 1. Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắ c và hình thức bán đấu giá tài sản 1. Khái niệm - Đấ u giá: Ở góc độ khái quát nhất, đấu giá là một hình thức mua bán hàng hóa công khai mà người trả giá cao nhất là người trúng đấu giá.
Theo từ điển kinh tế học hiện đại: “Đấu giá (auctions) là một kiểu thị trường trong đó người mua tiềm tàng đặt giá cho hàng hóa chứ không phải đơn thuần trả giá theo giá công bố của người bán”[16, tr. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt: “Bán đấu giá là bán theo phương thức để cho những người mua công khai trả giá, ai trả giá cao nhất thì bán:”[1, tr.95], hoặc “Bán đấu giá là bán bằng hình thức để cho những người mua lần lượt trả giá, ai trả giá cao nhất thì được mua”[47, tr. Theo Từ điển Luật học: “Bán đấu giá tài sản là hình thức bán công khai một tài sản, một khối tài sản; theo đó có nhiều người muốn mua tham gia trả giá, người trả giá cao nhất nhưng không thấp hơn giá khởi điểm là người mua được tài sản”[46, tr. Ở góc độ pháp lý, định nghĩa về bán đấu giá được quy định trong các điều luật cụ thể của pháp luật mỗi quốc gia: Điều 3 Luật Bán đấu giá tài sản nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1996 quy định “Bán đấu giá là hình thức bán và mua tài sản công khai, theo đó các tài sản và quyền tài sản được bán cho người trả giá cao nhất”[49].
Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam quy định “Tài sản có thể được đem bán đấu giá theo ý muốn của chủ sở hữu hoặc pháp luật có quy định”[25, tr. Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản quy định “Bán đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản công khai 11 theo phương thức trả giá lên, có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục được quy định tại Nghị định này”[11, tr. “Đấu giá hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó, người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai để chọn người mua trả giá cao nhất”[28, tr. Ở Việt Nam, pháp luâ ̣t quy định về hoạt động bán đấu giá ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau tùy thuộc vào đối tượng của hoạt động này.
Tuy vậy, về bản chất, bán đấu giá là hình thức mua bán công khai, có nhiều người cùng tham gia trả giá, theo trình tự thủ tục nhất định, đối tượng đưa ra đấu giá được bán cho người chấp nhận mua ở mức giá cao nhất. - Tài sản (asset) theo định nghĩa của Từ điển kinh tế, tài chính ngân hàng của Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lê Văn Tề (NXB Thanh niên-1999) là một vật thuộc quyền sở hữu cá nhân biểu hiện dưới hình thức giá trị hoặc theo David W.Pearce thì: “Tài sản là một thực thể có giá trị thị trường hoặc giá trị trao đổi và là bộ phận cấu thành của cải hay tài sản của chủ sở hữu”. Theo quy định của Bô ̣ Luật dân sự Việt Nam thì tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Pháp luật Việt Nam chia tài sản thành hai loại bất động sản và động sàn.
“Bất động sản bao gồm đất đai, nhà, các tài sản khác gắn liền với đất đai và những loại tài sản theo quy định của pháp luật. Động sản không phải là bất động sản”[25, tr. Nghị định 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản cũng xác định các loại tài sản bán đấu giá chỉ bao gồm: Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; Tài sản bảo đảm trong trường hợp pháp luật về giao dịch bảo đảm quy định phải xử lý bằng bán đấu giá; Tài sản nhà nước được xử lý bằng bán đấu giá theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; tài sản là quyền sử dụng đất trong trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất được bán đấu giá theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; 12 Các tài sản khác phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật. - Bán đấ u giá tài sản: Theo quan niệm truyền thống, đấu giá là việc mua bán hàng, tài sản công khai mà những người mua sẽ trả giá từ giá thấp cho tới khi trả giá cao nhất và người bán đấu giá đồng ý bán bằng cách gõ búa.
Dưới góc độ pháp lý, theo quy định của pháp luật của hầu hết các nước, định nghĩa về bán đấu giá tài sản thường được quy định trong những điều luật cụ thể. Chẳng hạn Điều 3 Luật về bán đấu giá tài sản nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa năm 1996 quy định “Bán đấu giá là hình thức bán và mua tài sản công khai, theo đó các tài sản và quyền tài sản được bán cho người trả giá cao nhất”[49, tr. Đạo luật của Floriada năm 2003 đưa ra khái niệm “Bán đấu giá tuyệt đối” là cuộc bán đấu giá không yêu cầu giá khởi điểm tối thiểu mà hàng hoá sẽ được bán cho người trả giá cao nhất. Còn Quy chế của Ủy ban đấu giá bang Alabama (Hoa kỳ) đưa ra khái niệm: “Bán đấu giá là việc bán công khai một tài sản cho người trả giá cao nhất”.
Ở Viê ̣t Nam, ta ̣i Khoản 1, Điề u 2, Nghi ̣ đinh ̣ 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản quy định: “Bán đấ u giá tài sản là hình thức bán tài sản công khai theo phương thức trả giá lên, có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục được quy định tại Nghị định này. Phương thức trả giá lên là phương thức trả giá từ thấp lên cao cho đến khi có người trả giá cao nhất”[11, tr. Đặc điểm Bán đấu giá tài sản là một hình thức bán tài sản công khai nhằm bán được tài sản với giá cao nhất. Theo quy định của pháp luật thì việc chia các loại hình đấu giá được xem xét trong từng lĩnh vực cụ thể: Chẳng hạn trong lĩnh vực thương mại, đấu giá là một trong những hoạt động thương mại cụ thể, do thương nhân tiến hành bằng hành vi thương mại của mình, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức bán đấu giá thực hiện việc bán hàng hóa công khai để chọn người mua trả giá cao nhất.
Trong lĩnh vực dân sự thì bản chất đấu giá là các giao dịch mua bán tài sản thông qua trung gian, theo trình tự thủ tục luật định. Còn trong các hình thức đấu giá cho các đối tượng cụ thể khác như đấu giá quyền sử dụng đất, 13 đấu giá hàng hóa dự trữ quốc gia, đấu giá quyền khai thác khoáng sản,. thì đấu giá nhằm lựa chọn người mua hàng hóa, dịch vụ trả giá cao nhất và khả thi nhất. Đấu giá là một hành vi pháp lý, có thể là một hành vi dân sự hoặc một hoạt động thương mại độc lập của thương nhân.
Đối tượng của bán đấu giá là tài sản hoặc hàng hóa thương mại được phép lưu thông, quan hệ đấu giá được xác lập dưới những hình thức nhất định. Là một trong các hình thức mua bán, bán đấu giá mang những đặc điểm chung của hoạt động mua bán. Tuy nhiên, đấu giá cũng có những đặc điểm riêng khác biệt so với các hoạt động mua bán thông thường khác, cụ thể: Thứ nhất, đấu giá là hình thức mua bán công khai nhất. Đặc điểm nổi bật này của đấu giá cũng là một trong những nguyên tắc của hoạt động mua bán thông qua đấu giá.
Tại Điều 188 Luật Thương mại năm 2005 quy định “Việc đấu giá hàng hoá trong thương mại phải được thực hiện theo nguyên tắc công khai, trung thực, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia”[28, tr. Khoản 1 Điều 3 Nghị định 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản cũng quy định đặc điểm công khai của hoạt động mua bán tài sản bằng việc quy định nguyên tắc sau: “Việc bán đấu giá tài sản được thực hiện theo nguyên tắc công khai, liên tục, khách quan, trung thực, bình đẳng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia”[11, tr. Như vậy, tính công khai của hình thức bán đấu giá được quy định trong Luật Thương mại năm 2005, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản và các văn bản quy định đấu giá các đối tượng cụ thể khác, thể hiện ở việc công khai các thông tin liên quan đến tài sản, người đăng ký tham gia đấu giá có thể trực tiếp xem tài sản đưa ra đấu giá; công khai thông báo và niêm yết thông báo bán đấu giá tài sản với đầy đủ các thông tin cần công khai như về thời gian, địa điểm đấu giá; tên, địa chỉ của người tổ chức đấu giá; tên, địa chỉ của người có tài sản; danh mục tài sản, số lượng, chất lượng tài sản; giá khởi điểm; thông tin cần thiết liên quan đến tài sản; địa điểm, thời gian trưng bày tài sản; địa điểm, thời gian tham khảo hồ sơ về tài sản; địa điểm, thời gian đăng ký mua tài sản. 14 Tại cuộc đấu giá, mọi hoạt động cũng phải công khai như về giá khởi điểm, về người mua trúng đấu giá,.
Về yêu cầu công khai tại cuộc bán đấu giá, Điều 201 Luật Thương mại năm 2005 quy định cụ thể như sau: Đối với phương thức trả giá lên, người điều hành đấu giá phải nhắc lại một cách rõ ràng, chính xác giá đã trả sau cùng cao hơn giá người trước đã trả ít nhất là ba lần, mỗi lần cách nhau ít nhất ba mươi giây. Người điều hành đấu giá chỉ được công bố người mua tài sản bán đấu giá, nếu sau ba lần nhắc lại giá người đó đã trả mà không có người nào trả giá cao hơn. Đối với phương thức đặt giá xuống, người điều hành đấu giá phải nhắc lại một cách rõ ràng, chính xác từng mức giá được hạ xuống thấp hơn giá khởi điểm ít nhất là ba lần, mỗi lần cách nhau ít nhất ba mươi giây.