CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN Ở DOANH NGHIỆP. KHÁI QUÁT VỀ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm vốn kinh doanh Vốn có vai trò hết sức quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Nhiều học giả đã nghiên cứu và đưa ra các khái niệm khác nhau về vốn của doanh nghiệp, ở đây em xin trình bày một trong số đó: - Theo quan điểm của Mark, dưới góc độ các yếu tố sản suất, Mark cho rằng:” Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản suất”. Định nghĩa của Mark về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò của vốn. Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: tài sản cố định, nguyên vật liệu, tiền công. Vốn là giá trị mang lại giá trị thặng dư thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển của nền kinh tế, Mark chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong lĩnh vực sản suất vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Đây là một hạn chế trong quan niệm về vốn của Mark. - Theo quan điểm của P.Samuelson và Wiliam D.Nordhalls, đại diện tiêu biểu của học thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại cho rằng: “Vốn là khái niệm thường dùng để chỉ các hàng hóa dùng làm vốn nói chung, một nhân tố sản xuất”. Vốn gồm 2 loại là vốn vật chất ( nhà máy, thiết bị, kho tàng …) và vốn tài chính ( tiền mặt, chứng khoán, các giấy tờ có giá…) Quan điểm này cho thấy nguồn hình thành và các trạng thái biểu hiện của vốn, nhưng chưa cho thấy mục đích về sử dụng vốn.
- David Begg, trong cuốn “Kinh tế học” ông đã đưa ra hai định nghĩa về vốn là: Vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác. Vốn tài chính là các giấy tờ 4 có giá và tiền mặt của doanh nghiệp. Như vậy, đã có sự đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp trong định nghĩa của David Begg.
Thực chất vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả các tài sản mà doanh nghiệp dùng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn được phản ánh trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản sau: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền. Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy gọi là sự tuần hoàn vốn. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không ngừng. Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh.
Từ đó có thể hiểu:“Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản và các nguồn lực mà doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động kinh doanh “ 1. Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp Quá trình vận động của vốn trong doanh nghiệp có thể được xem là bản chất, nội dung của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp biểu hiện dưới hình thức giá trị. Vai trò của vốn trong doanh nghiệp được thể hiện khái quát như sau: -Vốn là điều kiện ban đầu cần thiết để hình thành doanh nghiệp. Không một doanh nghiệp nào có thể xuất hiện và tồn tại mà không có vốn.
Vốn phải được ứng trước để mua các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. -Vốn được đáp ứng đầy đủ kịp thời hay không luôn có ảnh hưởng mang tính quyết định tới sự thành bại của doanh nghiệp khi thực hiện chiến lược kinh doanh: sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? 5 -Muốn đầu tư mở rộng quy mô, đạt sự phát triển về kỹ thuật, công nghệ và trang thiết bị thì doanh nghiệp phải có vốn để đầu tư trong lĩnh vực nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và hiện đại hóa doanh nghiệp. Đó là cơ sở để nâng cao năng lực sản xuất, năng lực lao động, sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế. -Quy mô vốn có ảnh hưởng rất lớn đến phạm vi hoạt động và sự đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi phải có lượng vốn nhất định để có thể được tiến hành, doanh nghiệp nào có tiềm lực về vốn càng mạnh thì sự tự chủ về tài chính và sức cạnh tranh càng cao. Do vậy, việc tạo ra sự tăng trưởng và phát triển vốn luôn là một mục tiêu cơ bản trong mỗi doanh nghiệp. Phân loại vốn của doanh nghiệp Vốn của doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều hình thái vật chất khác nhau và có mặt ở tất cả các hoạt động, các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, việc phân loại vốn là cần thiết để tạo điều kiện cho việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, quản lý quá trình sản xuất, đảm bảo huy động đầy đủ vốn, sử dụng vốn tiết kiệm và đạt được mục tiêu của mình.
Tùy theo mục đích phân loại vốn, người ta có thể sử dụng các tiêu thức khác nhau để phân loại vốn. Một số cách phân loại phổ biến bao gồm: Căn cứ vào hình thái biểu hiện, vốn được chia thành hai loại: vốn hữu hình và vốn vô hình Căn cứ vào thời hạn luân chuyển, vốn được chia làm hai loại là: ngắn hạn và dài hạn. Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn được chia thành hai nguồn cơ bản: nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Căn cứ vào nội dung vật chất, vốn được chia làm hai loại: vốn ( vốn vật tư, hàng hóa) và vốn tài chính ( vốn tiền tệ).
Căn cứ vào phương thức luân chuyển, vốn được chia làm hai loại: vốn cố định và vốn lưu động. 6 Về cơ bản trên giác độ lý thuyết cũng như trong thực tiễn, vốn được phân loại căn cứ vào hai tiêu thức chính là luân chuyển vốn và nguồn hình thành vốn. Xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn và luân chuyển vốn Đây là tiêu thức phân loại chủ yếu, hiệu quả nhất trong việc quản lý vốn. Căn cứ vào tiêu thức này, vốn được phân thành hai loại: vốn cố định và vốn lưu động.
- Vốn cố định: Trong nền kinh tế thị trường để có được các tài sản cố định cần thiết cho hoạt động kinh doanh; doanh nghiệp phải đầu tư ứng trước một lượng vốn tiền tệ nhất định. Số vốn doanh nghiệp ứng ra để hình thành nên tài sản cố định gọi là vốn cố định của doanh nghiệp. Đặc điểm của vốn cố định : Tài sản cố định của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng lâu dài cho các hoạt động của doanh nghiệp và thỏa mãn tất cả các tiêu chuẩn về tài sản cố định. Tài sản cố định tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định không thay đổi hình thái vật chất ban đầu cho đến lúc hư hỏng hoàn toàn, giá trị của nó được dịch chuyển dần từng phần vào giá trị của sản phẩm và được bù đắp lại bằng tiền khi sản phẩm được tiêu thụ. Tài sản cố định với đặc điểm tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và giá trị hao mòn dần, đưa đến đặc điểm chu chuyển vốn cố định là luân chuyển dần từng phần qua các chu kỳ sản xuất kinh doanh. Tương ứng với mức độ hao mòn tài sản cố định sẽ có một phần vốn cố định ra nhập chi phí sản xuất kinh doanh. Phần còn lại của vốn cố định thể hiện trong giá trị còn lại của tài sản cố định.
Cứ như vậy, vốn cố định được luân chuyển dần qua các chu kỳ sản xuất kinh doanh tương ứng với giá trị hao mòn tài sản cố định. Khi tài sản cố định hết giá trị sử dụng thì vốn cố định cũng hoàn thành một vòng luân chuyển của nó. Như vậy, Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định. Đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần dần từng phần 7 trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị.
- Vốn lưu động: Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhất định. Do đó, để hình thành nên các tài sản lưu động, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó. Số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Tài sản lưu động của doanh nghiệp gồm hai bộ phận : Tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông.
Tài sản lưu động sản xuất gồm nguyên vật liệu, nhiên liệu … còn tài sản lưu động lưu thông là những tài sản lưu động trong quá trình lưu thông của doanh nghiệp như thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán… Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn thay thế chỗ cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục thuận lợi. Vốn lưu động của doanh nghiệp thường xuyên vận động, chuyển hóa lần lượt qua nhiều hình thái khác nhau. Lúc đầu là hình thái tiền tệ, sau chuyển qua hình thái vật tư, hàng hóa dự trữ,. cuối cùng chuyển về hình thái tiền tệ ban đầu.