Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2009 - 2011, thị trường bất động sản và xây dựng Việt Nam đối mặt với nhiều biến động phức tạp về chi phí nguyên vật liệu và mặt bằng lãi suất tín dụng. Doanh thu thuần của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Tân Hà đã ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc từ 5.905.754.535 đồng năm 2009 lên 68.890.166.932 đồng năm 2010 và đạt 79.486.186.521 đồng vào năm 2011, tương ứng mức tăng trưởng hơn 13,46 lần trong 3 năm hoạt động. Tuy nhiên, tốc độ mở rộng quy mô quá nhanh đã đặt doanh nghiệp trước bài toán quản trị vốn lưu động đầy thách thức. Tổng nợ phải trả năm 2011 lên tới 17.982.839.403 đồng, chiếm 81,13% tổng nguồn vốn, trong khi kết quả kinh doanh năm 2010 và 2011 vẫn ghi nhận mức lỗ sau thuế lần lượt là 445.081.418 đồng và 373.392.832 đồng.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về vốn lưu động, phân tích thực trạng công tác quản trị và hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Tân Hà giai đoạn 2009 - 2011, từ đó xác lập hệ thống giải pháp tài chính toàn diện nhằm tối ưu hóa vòng quay vốn, giảm thiểu chi phí bị chiếm dụng vốn và cải thiện năng lực sinh lời. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Tân Hà (địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội) với dữ liệu tài chính kéo dài từ năm 2009 đến năm 2011, được thực hiện trong thời gian 2,5 tháng từ ngày 06/02/2012 đến ngày 21/04/2012. Đề tài mang giá trị thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ định lượng giúp doanh nghiệp kiểm soát kỳ thu tiền bình quân ở mức 29 ngày và gia tăng tỷ suất tự tài trợ từ 18,87% lên mức mục tiêu trên 35%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng Lý thuyết chu chuyển vốn và Lý thuyết tài trợ vốn lưu động hiện đại. Quá trình vận động của vốn lưu động trong doanh nghiệp sản xuất và xây lắp được mô hình hóa qua chu trình tuần hoàn: Tiền - Hàng hóa vật tư - Sản xuất sản phẩm dở dang - Hàng hóa thành phẩm - Tiền gia tăng. Vốn lưu động chuyển hóa liên tục qua các hình thái biểu hiện, chuyển dịch toàn bộ giá trị trong một chu kỳ kinh doanh và được hoàn lại toàn bộ khi kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm.

Năm khái niệm và mô hình then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Vốn lưu động: Biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động nhằm phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh thường xuyên, liên tục của doanh nghiệp.
  • Nhu cầu vốn lưu động ròng: Lượng vốn tiền tệ cần thiết doanh nghiệp phải ứng ra để duy trì mức dự trữ hàng tồn kho và tài trợ cho các khoản phải thu sau khi đã trừ đi các khoản nợ phải trả nhà cung cấp và nợ mang tính chu kỳ.
  • Tốc độ luân chuyển vốn: Đại lượng phản ánh hiệu suất sử dụng vốn thông qua số vòng quay vốn lưu động và độ dài của một kỳ luân chuyển vốn tính bằng ngày.
  • Mô hình tài trợ vốn: Hệ thống ba mô hình tài trợ gồm mô hình an toàn (nguồn vốn dài hạn tài trợ toàn bộ tài sản thường xuyên và một phần tài sản tạm thời), mô hình linh hoạt (nguồn vốn thường xuyên tài trợ tài sản thường xuyên, nguồn vốn tạm thời tài trợ tài sản tạm thời), và mô hình mạo hiểm (sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ một phần tài sản thường xuyên).
  • Hệ số khả năng thanh toán và hàm lượng vốn: Các chỉ tiêu lượng hóa mức độ bảo đảm chi trả nợ ngắn hạn và số vốn lưu động cần thiết để tạo ra một đồng doanh thu thuần.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ hệ thống báo cáo tài chính kiểm toán, bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2009 - 2011 được lập theo Chuẩn mực kế toán số 14 và chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua quan sát thực địa quy trình kế toán kinh doanh và phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ dữ liệu tài chính kế toán chi tiết trong chuỗi 36 tháng liên tục (từ tháng 4/2009 đến hết tháng 12/2011), kết hợp mẫu phỏng vấn sâu gồm 12 nhân sự chủ chốt thuộc phòng Tài chính - Kế toán, phòng Kinh doanh và phòng Kỹ thuật theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tỷ số tài chính, phương pháp so sánh đối chiếu và phân tích luân chuyển dòng tiền trên phần mềm Excel là nhằm lượng hóa chính xác sự biến động của quy mô vốn lưu động 12.588.137.379 đồng, làm rõ các điểm nghẽn gây ứ đọng vốn và suy giảm tốc độ chu chuyển trong môi trường xây lắp. Tiến trình nghiên cứu được triển khai thực hiện từ ngày 06/02/2012 đến ngày 21/04/2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu vốn kinh doanh có sự chuyển dịch lớn giữa tài sản cố định và tài sản lưu động. Đến ngày 31/12/2011, tổng vốn kinh doanh đạt 22.164.365.153 đồng, tăng 62,89% so với mức 13.606.928.439 đồng năm 2010. Trong đó, vốn cố định tăng trưởng mạnh 136,29% (đạt 9.576.227.774 đồng), nâng tỷ trọng từ 29,78% lên 43,20%. Vốn lưu động tăng 31,75% (đạt 12.588.137.379 đồng), nhưng tỷ trọng trong tổng vốn kinh doanh giảm từ 70,22% xuống 56,80%, phản ánh chiến lược tăng cường đầu tư trang thiết bị máy móc thi công của doanh nghiệp.

Thứ hai, các khoản phải thu phình to và chiếm tỷ trọng áp đảo trong cơ cấu vốn lưu động. Giá trị các khoản phải thu tăng 98,85%, từ 4.352.954.763 đồng năm 2010 lên 8.655.938.572 đồng năm 2011, chiếm tới 68,76% tổng vốn lưu động. Trong đó, khoản phải thu của khách hàng chiếm 97,14% (tương đương 8.407.285.572 đồng). Tốc độ tăng của khoản phải thu vượt xa tốc độ tăng doanh thu thuần (15,38%), khiến số vòng quay khoản phải thu giảm mạnh từ 28,74 vòng xuống 12,30 vòng và kỳ thu tiền bình quân bị kéo dài từ 13 ngày lên 29 ngày.

Thứ ba, vốn bằng tiền sụt giảm nghiêm trọng, đe dọa khả năng thanh toán tức thời. Lượng tiền và tương đương tiền giảm 58,99%, từ 4.251.398.228 đồng (chiếm 44,50% vốn lưu động) năm 2010 xuống 1.743.647.016 đồng (chiếm 13,85% vốn lưu động) năm 2011. Đáng lưu ý, tiền gửi ngân hàng giảm sâu từ 3.880.520.144 đồng xuống còn 64.468.729 đồng, trong khi tiền mặt tại quỹ chiếm tới 96,76% tổng vốn bằng tiền, gây bất lợi cho các giao dịch quy mô lớn qua hệ thống ngân hàng.

Thứ tư, hiệu suất luân chuyển hàng tồn kho có dấu hiệu chậm lại. Mặc dù giá trị tồn kho cuối năm 2011 giảm 6,99% xuống 833.496.190 đồng (chiếm 6,62% vốn lưu động), số vòng quay hàng tồn kho lại giảm từ 131 vòng năm 2010 xuống 83 vòng năm 2011, làm thời gian giải phóng một vòng tồn kho tăng từ 2 ngày lên 4 ngày.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng đột biến của các khoản phải thu phản ánh chính sách nới lỏng tín dụng thương mại nhằm mở rộng thị phần thi công xây dựng và cung cấp nội thất. Tuy nhiên, việc để khách hàng chiếm dụng 8,66 tỷ đồng vốn đã tạo áp lực thanh khoản lớn, buộc doanh nghiệp phải bù đắp bằng 17,98 tỷ đồng nợ phải trả. Dù công ty đã tận dụng 11.816.675.687 đồng vốn chiếm dụng mang tính chu kỳ (nợ lương người lao động 9,29 tỷ đồng, nợ thuế 2,14 tỷ đồng), việc duy trì hệ số nợ ở mức cao 81,13% làm suy giảm tính tự chủ tài chính. Điểm tích cực là nguồn vốn lưu động thường xuyên đạt 8.187.188.416 đồng vào cuối năm 2011, bảo đảm nguyên tắc cân bằng tài chính khi nguồn vốn dài hạn tài trợ trọn vẹn cho tài sản cố định và một phần tài sản lưu động.

Trong thực tiễn phân tích, các dữ liệu này có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ cơ cấu tài sản lưu động dạng cột chồng thể hiện tỷ trọng gia tăng của khoản phải thu, kết hợp biểu đồ đường so sánh tương quan giữa tốc độ tăng doanh thu thuần và tốc độ mở rộng công nợ khách hàng. Bảng phân tích luân chuyển vốn cung cấp bức tranh chi tiết về sự suy giảm tốc độ giải phóng tiền mặt trong chu kỳ kinh doanh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc chính sách tín dụng thương mại và đẩy mạnh công tác thu hồi nợ. Ban Giám đốc cùng Phòng Kinh doanh và Phòng Tài chính - Kế toán cần xây dựng quy chế xếp hạng tín nhiệm khách hàng, áp dụng chính sách chiết khấu thanh toán từ 1,5% đến 2,0% cho các đối tác thanh toán trước thời hạn 10 ngày. Mục tiêu hành động: Rút ngắn kỳ thu tiền bình quân từ 29 ngày về dưới 20 ngày, kéo giảm số dư nợ phải thu khách hàng từ 8,41 tỷ đồng xuống dưới 5,50 tỷ đồng trong thời gian 6 tháng đầu triển khai.

Thứ hai, tối ưu hóa quản trị dòng tiền và phân bổ hợp lý số dư tiền gửi ngân hàng. Phòng Tài chính - Kế toán cần xác lập hạn mức tồn quỹ tiền mặt tối ưu từ 300 triệu đến 500 triệu đồng, chuyển dịch phần vốn khả dụng sang tài khoản tiền gửi ngân hàng linh hoạt để nâng số dư tiền gửi từ 64,47 triệu đồng lên tối thiểu 1,20 tỷ đồng, nâng cao hệ số thanh toán nhanh ngay trong quý tiếp theo.

Thứ ba, áp dụng mô hình định mức tồn kho tinh gọn theo phương thức cung ứng linh hoạt. Phòng Kinh doanh phối hợp với Phòng Kỹ thuật và các Đội thợ sản xuất áp dụng mô hình tồn kho vừa đúng lúc đối với các loại vật liệu xây dựng thô như gạch, cát, xi măng, sắt thép, tận dụng lợi thế liền kề các khu công nghiệp Thạch Thất và Phùng Xá. Mục tiêu: Đưa vòng quay hàng tồn kho từ 83 vòng lên trên 100 vòng/năm, tiết kiệm 10% đến 15% chi phí lưu kho và bảo quản trong niên độ tài chính tới.

Thứ tư, nâng cao năng lực tự tài trợ và kiểm soát hệ số nợ. Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc triển khai lộ trình tăng vốn điều lệ lên mức 10 tỷ đồng trong thời hạn 12 đến 24 tháng, kiểm soát quy mô nợ vay ngắn hạn ngân hàng (hạn mức 1 tỷ đồng), từng bước hạ hệ số nợ từ 81,13% xuống dưới 65% và nâng tỷ suất tự tài trợ lên trên 35%.

Thứ năm, tách biệt bộ phận quản lý tài chính chuyên trách và nâng cao năng lực nhân sự. Ban Giám đốc ban hành quyết định tách riêng phòng Quản trị Tài chính khỏi phòng Kế toán trong lộ trình 3 tháng, đào tạo chuyên sâu nghiệp vụ thẩm định dự án cho đội ngũ 98 cán bộ nhân viên, đặc biệt phát huy vai trò của 21 nhân sự có trình độ đại học và trên đại học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Ban lãnh đạo và Giám đốc tài chính các doanh nghiệp xây dựng, thương mại quy mô vừa và nhỏ: Luận văn cung cấp bài học thực tế về quản trị rủi ro thanh khoản khi mở rộng doanh thu nóng từ 5,91 tỷ đồng lên 79,49 tỷ đồng, đồng thời đưa ra các giải pháp kiểm soát nợ phải thu chiếm tới 68,76% vốn lưu động.

Thứ hai, Kế toán trưởng và chuyên viên phân tích tài chính doanh nghiệp: Ứng dụng trọn bộ công cụ lượng hóa tốc độ chu chuyển vốn, phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động ròng và kỹ thuật cân đối giữa 11,82 tỷ đồng vốn chiếm dụng với 8,66 tỷ đồng vốn bị chiếm dụng trong thực tế hoạt động kinh doanh.

Thứ ba, Cán bộ thẩm định tín dụng tại các ngân hàng thương mại: Sử dụng luận văn như tài liệu tham chiếu tin cậy để đánh giá tính khả thi của các phương án tài trợ vốn lưu động ngắn hạn (hạn mức 1 tỷ đồng), phân tích mức độ an toàn tài chính của doanh nghiệp xây lắp qua hệ số nợ 81,13% và nguồn vốn lưu động thường xuyên 8,19 tỷ đồng.

Thứ tư, Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kế toán: Tiếp cận nguồn dữ liệu thực chứng chuyên sâu về mô hình luân chuyển vốn, phương pháp hạch toán và phân tích báo cáo tài chính trên phần mềm Excel phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

Câu hỏi thường gặp

Doanh thu thuần năm 2011 đạt tới 79,49 tỷ đồng nhưng vì sao công ty vẫn ghi nhận kết quả lỗ sau thuế 373,39 triệu đồng? Doanh nghiệp đang trong giai đoạn đầu thâm nhập thị trường nên ưu tiên mở rộng khách hàng. Giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng rất cao lên tới 71,75 tỷ đồng (tương đương 90,27% doanh thu thuần), kết hợp với chi phí quản lý và biến động giá vật liệu xây dựng tăng cao khiến lợi nhuận gộp chưa đủ bù đắp tổng chi phí vận hành.

Nguyên nhân chính khiến các khoản phải thu khách hàng tăng vọt lên 8,41 tỷ đồng vào cuối năm 2011 là gì? Công ty áp dụng chính sách bán chịu nới lỏng để tăng năng lực cạnh tranh trong đấu thầu thi công xây dựng và cung cấp nội thất. Đặc thù sản phẩm xây lắp có thời gian thi công dài và thanh toán theo từng đợt nghiệm thu, cùng với chính sách ưu đãi cho các đối tác lớn khiến quy mô nợ bị chiếm dụng tăng mạnh.

Nguồn vốn lưu động thường xuyên đạt 8,19 tỷ đồng cuối năm 2011 có ý nghĩa gì đối với an toàn tài chính? Chỉ số này phản ánh nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp đủ để tài trợ toàn bộ tài sản cố định và còn dư 8,19 tỷ đồng để tài trợ cho tài sản lưu động. Điều này giúp công ty duy trì sự cân bằng tài chính và giảm thiểu nguy cơ vỡ nợ ngắn hạn dù hệ số nợ ở mức 81,13%.

Vì sao tiền gửi ngân hàng của công ty lại sụt giảm mạnh từ 3,88 tỷ đồng xuống còn 64,47 triệu đồng vào năm 2011? Doanh nghiệp đã dồn phần lớn nguồn tiền để thanh toán các khoản mua sắm tài sản cố định (vốn cố định tăng thêm 5,52 tỷ đồng) và thanh toán vật tư thi công. Mặt khác, các khoản thu từ bán hàng cuối năm chủ yếu được thu trực tiếp bằng tiền mặt tại quỹ (đạt 1,68 tỷ đồng).

Doanh nghiệp có thể áp dụng giải pháp nào để nâng số vòng quay hàng tồn kho từ 83 vòng lên trên 100 vòng/năm? Doanh nghiệp nên ký kết hợp đồng cung ứng định kỳ với các nhà máy sản xuất vật liệu tại cụm công nghiệp lân cận như KCN Thạch Thất và Phùng Xá để giao vật tư trực tiếp đến chân công trình, giúp hạ thấp mức dự trữ tồn kho bình quân 864,83 triệu đồng mà vẫn bảo đảm tiến độ thi công.

Kết luận

  • Doanh thu thuần đạt bước tăng trưởng ấn tượng 79,49 tỷ đồng năm 2011, khẳng định vị thế và năng lực tiếp cận thị trường xây dựng sau 3 năm hoạt động.
  • Quy mô vốn lưu động đạt 12,59 tỷ đồng, đóng vai trò huyết mạch bảo đảm tính liên tục cho các dự án xây dựng dân dụng và kinh doanh nội thất.
  • Khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng cao 68,76% vốn lưu động (8,66 tỷ đồng), là mắt xích rủi ro trọng yếu cần tập trung tháo gỡ thanh khoản.
  • Nguồn vốn chủ sở hữu tăng lên 4,18 tỷ đồng, từng bước cải thiện tỷ suất tự tài trợ từ 4,08% lên 18,87% và củng cố nguồn vốn lưu động thường xuyên đạt 8,19 tỷ đồng.
  • Hệ thống 5 nhóm giải pháp về tín dụng thương mại, phân bổ tiền tệ, tồn kho tinh gọn và kiện toàn nhân sự tạo đòn bẩy vững chắc giúp công ty chuyển từ lỗ sang lãi.

Luận văn đã đóng góp hệ thống giải pháp tài chính mang tính ứng dụng thực tiễn cao cho các doanh nghiệp xây lắp quy mô vừa và nhỏ tại Việt Nam. Kế hoạch hành động trong 6 đến 12 tháng tiếp theo tập trung vào việc thu hồi công nợ quá hạn, tái cấu trúc dòng tiền gửi ngân hàng và nâng mức vốn tự có. Doanh nghiệp cần khẩn trương triển khai đồng bộ các giải pháp đề xuất nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn lưu động và nâng cao năng lực cạnh tranh trong chu kỳ kinh doanh mới.