Chương 1: Cơ sở ly luận về hiệu quả sử dung vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Điện lực Hà Tĩnh. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Điện lực Hà Tĩnh. CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HIỆU QUA SỬ DUNG VON KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP.
Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Khái niệm Trước tiên dé hiểu rõ về VKD, ta phải hiểu về vốn nói chung. Khái niệm về vốn rất đa dạng và cũng rất khác nhau, tuỳ theo từng thời kỳ và giai đoạn lịch sử mà mỗi nhà kinh tế lại đưa ra những khái niệm phù hợp. - Theo Paul Samuelson và William D.
Nordhaus thì: “Vốn bao gồm hai loại: vốn vật chất và vốn tài chính. Ban thân vốn là một loại hàng hoá nhưng được tiếp tục sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo”. Với quan điểm này có thé thấy rõ được trạng thái biểu hiện và nguồn gốc của von. Song quan diém nay chưa cho thay mục đích vê sử dung von.
- Một số nhà kinh tế lại cho rằng: “Vốn bao gồm các yếu tố kinh tế được bồ trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như: tài sản hữu hình, vô hình, các kiến thức về kinh tế, kỹ thuật của DN được tích luỹ, về trình độ quản lý, các lợi thế thương mại. lượng hoá vốn theo quan điểm này chính là giá trị doanh nghiệp được định ra dé bán theo giả thiết”. Quan điểm nay rất có ý nghĩa rất trong việc khai thác đầy đủ hiệu quả sử dụng vốn theo cơ chế thị trường. Nhưng việc xác định vốn theo quan điểm này là rất phức tạp và khó khăn, với trình độ pháp luật và quản lý kinh tế ở nước ta đang ở mức thấp.
-Khi xét theo mục tiêu kinh doanh, vốn được định nghĩa: “ Vốn là gia tri đem lại giá tri thang dư” (Trang 137-139, Mác- ăngghen Tuyền tập, T3, NXB Sự thật 1991). Với quan điểm này thì mục tiêu của việc sử dụng vốn hay là mục tiêu về quá trình hoạt động SXKD được chỉ ra rất rõ. Tuy nhiên quan điểm này mang tính trừu tượng nên bị hạn chế về ý nghĩa đối với việc phân tích hiệu quả sử dụng VKD. Những quan điểm trên tùy theo góc độ đã thé hiện được tac dụng, vai trò trong những điều kiện, thời gian khác nhau, với các yêu cầu nghiên cứu cụ thể.
Nhưng với nền cơ chế thị trường hiện nay, các quan điểm trên chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên phương diện hạch toán và quản lý. Vì vậy , định nghĩa về vốn đơn giản và phù hợp với gia đoạn hiện nay: “Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá tri tai sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuât kinh doanh nhăm mục đích sinh lời.” Như vậy, có thê xem vôn là toàn bộ tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp hay chính là toàn bộ tài sản vật chất và tài sản tài chính mà doanh nghiệp đó đưa vào đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh dé đạt được một lợi nhuận nào đó. Từ đó ta có thể rút ra được định nghĩa về vốn kinh doanh: “Vốn Kinh doanh là số vốn doanh nghiệp đang trực tiếp sử dụng vào mục đích kinh doanh. Phân loại vốn kinh doanh Tuy vào những mục đích, căn cứ của từng doanh nghiệp mà VKD được phân loại theo nhiều khái niệm khác nhau.
Có 3 cách phân loại phổ biến sau đây được áp dụng trong nhiều doanh nghiệp: 1. Phân loại vốn kinh doanh theo đặc điểm luân chuyên của vốn Dựa theo đặc điểm luân chuyền, VKD được chia làm hai loại: e Vốn có định (VCD) Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt nam: " Vốn cố định là trị giá thành tiền của tai sản cố định và tiền sử dụng cho mục đích đầu tư tải sản cố định" hay VCD là một bộ phận ứng trước về tài sản cố định của doanh nghiệp. “Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu (máy móc, thiết bị, nhà xưởng.) tham gia vào nhiều chu kì trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Giá trị của tài sản cố định chuyên dần vào giá trị sản phẩm dưới hình thức hao mòn (hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình).
Dé bù đắp sự hao mòn (giảm sút) giá tri của tài sản có định, doanh nghiệp phải lập quỹ khấu hao tai sản có định dé tồn tại và phát triển.” e Vốn lưu động (VLD) Theo cuốn “Quản trị tài chính” của Eugene F Brigham & Joel F Houston: “Trên bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp tài sản lưu động được thé hiện ở các bộ phận tiền mặt, phải thu, các khoản chứng khoán thanh khoản cao và dự trữ hàng hóa tồn kho. Đề hình thành nên những tài sản đó doanh nghiệp cần phải có một số vốn tương ứng, số vốn ấy gọi là VLĐ của doanh nghiệp”. Tài sản lưu động của doanh nghiệp được chia làm hai loại: Tài sản lưu động sản xuất (nguyên nhiên liệu, bán thành phẩm, sản phẩm dé dang.) và Tài sản lưu động lưu thông (sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thành toán, chi phí trả trước. Va cũng theo cuốn “Quản trị tài chính” của Eugene F Brigham & Joel F Houston: “Các quá trình kinh doanh khác nhau đều dẫn đến hình thái biểu hiện cua VLD khác nhau.
VLD liên tục thay đổi từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu trở thành hàng hóa, các vật tư dự trữ sản xuất, sau đó trở thành bán thành phẩm, sản phẩm do dang, thành pham và cuối cùng quay lại hình thái vốn bằng tiền. Kết thúc mỗi chu kỳ kinh doanh, toàn bộ giá trị của VLD được chuyển dịch tất cả một lần vào giá tri sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và được bu lấp lại khi doanh nghiệp thu được tiền ban chúng”. Doanh nghiệp sẽ lựa chọn được những quyết định đầu tư sao cho phù hợp và có hiệu quả nhất khi thấy được cơ cấu đầu tư vào tai sản cố định và tai sản lưu động dựa vào cách phân loại theo đặc điêm luân chuyên vôn như trên. Phân loại vốn kinh doanh theo quan hệ sở hữu e Vốn chủ sở hữu (VCSH) Phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền chiếm hữu, định đoạt và chi phối được gọi là VCSH.
Đối với doanh nghiệp, VCSH có tính dai han, an toàn rất cao và đặc biệt không phải hoàn trả. Tuy theo từng loại hình doanh nghiêp thuộc các thành phan kinh tế khác nhau mà VCSH hữu bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, VCSH mà doanh nghiệp bỏ ra, vốn góp cô phần và lợi nhuận để lại.VCSH tại một thời điểm có thể được xác định băng công thức sau đây: Vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản - Nợ phải trả e No phải trả Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 01 "Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các sự kiện và giao dịch đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình". Mặt khác, doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong phạm vi những ràng buộc và phải hoàn trả trong một thời gian nhất định đối với khoản vốn này. Nguồn vốn này được hình thành dưới nhiều hình thức khác nhau: Vay nợ, tín dụng thương mại, liên doanh liên kết, tín dụng ngân hàng, đi thuê và các hình thức sở hữu khác Phân loại vốn theo nguồn hình thành như trên có ý nghĩa đặc biệt trong việc đánh giá khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp qua đó xây dựng được cơ cầu nguồn vốn tối ưu nhằm tối thiểu hoá chi phí sử dụng vốn trong điều kiện đảm bảo an toàn tài chính.
Phân loại vốn kinh doanh theo thời gian sử dụng vốn e Vốn ngăn hạn “Vốn ngắn hạn là các khoản vốn có thời hạn trả dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh. Vốn ngắn hạn thường chỉ tham gia và một chu kỳ sản xuất, giá tri của nó được chuyền dịch toan bộ trong một lần vào gia tri sản phẩm. Vũ Duy Hao, ThS Trần Minh Tuấn, Giáo trình Tài chính Doanh nghiệp, NXB Dai học Kinh tế Quốc dân (2016) e Von dài hạn Là giá tri ứng ra ban đầu trong các quá trình sản xuất kinh doanh dé đầu tư vào tải sản dài hạn cho doanh nghiệp. Vốn dài hạn có thời hạn sử dụng trên một nam , nó bao gồm vốn chủ cở hữu và nợ dai hạn (tín dụng dài hạn, trái phiếu đài hạn, thuê tài chính).
Đây là nguồn vốn đuọc doanh nghiệp sử dụng ồn định, lâu dai vào hoạt động SXKD. Doanh nghiệp có thé thuận lợi trong việc huy động vốn một cách phù hợp với thời hạn sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn SXKD với cách phân loại vốn theo thời gian sử dụng như trên. Đồng thời với cách phân loại như thế này sẽ rất tốt vho việc lập kế hoạch tài chính của các nhà quản lý giúp tương lai hình thành nên những việc quan trọng về quy mô thích hợp cho từng nguồn vốn và tô chức lựa chọn nguồn vốn, tổ chức sử dụng vốn nhằm giảm thiểu rủi ro, tránh ứ đọng vốn, giảm chi phí sửdụng vốn, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng VKD. Vai trò, ý nghĩa của vốn đối với sản xuất kinh doanh Vốn là một trong những yếu tố tiên quyết của quá trình sản xuất, có ý nghĩa tới sự thành bại và phát triển trong kinh doanh của doanh nghiệp.
Và với bối cảnh nền kinh tế thi trường hiện nay thực sự là môi trường để nhìn thấy 16 đây đủ vai trò, ban chat va tam quan trọng của von. VKD là một yếu tố đầu vào cho hoạt động SXKD, là điều kiện vật chất không thê thiếu được trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Đứng trên góc độ một doanh nghiệp có thê thấy rằng, điểm xuất phát để tiến hành hoạt động SXKD là có một số vốn đầu tư ban đầu nhất định. Để doanh nghiệp tính toán, hoạch định kế hoạch và chiến lược kinh doanh một cách có hiểu quả thì cần dựa vào số VKD mà doanh nghiệp có.
Bên cạnh đó về mặt pháp lý, tat cả các doanh nghiệp du ở thành phần kinh tế nào, đều cần phải có một lượng vốn cần thiết tối 11 thiểu theo quy định nhà nước (vốn pháp định) dé được thành lập và đi vào hoạt động. Các doanh nghiệp muốn tiễn hành các hoạt động SXKD một cách liên tục có hiệu quả thì rất cần một lượng VKD phù hợp.