CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp Theo khoản 7, điều 4 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 có định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng kí thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Theo đó “Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng kí thành lập theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở tại Việt Nam”. Còn “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”. Mọi công ty đều có quyền SX-KD bất kì sản phẩm nào, ngành nghề nào mà pháp luật không cấm.
Công ty có quyền tự chủ trong mọi hoạt động của mình và có nghĩa vụ đối với Nhà nước như đóng thuế, bảo vệ tài nguyên môi trường… Tại Việt Nam các doanh nghiệp được phân loại bao gồm: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, công ty hợp danh, nhóm công ty. Trong đó các loại hình doanh nghiệp tiêu biểu bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Khác với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo điều 47 của Luật Doanh nghiệp 2014: “(1) Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó: a) Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50; b) Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ 3 tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 48 của Luật này; c) Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các Điều 52, 53 và 54 của Luật này”. Theo khoản 3 điều 47, Luật doanh nghiệp 2014 : “Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần”.
Công ty cổ phần Theo điều 110, Luật Doanh nghiệp 2014: “Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa;c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này”. Điều đặc biệt đối với công ty cổ phần việc huy động vốn trở nên dễ dàng hơn khi thông qua việc phát hành cổ phiếu. Doanh nghiệp tư nhân Là một tổ chức kinh doanh được sở hữu bởi một cá nhân hoặc một hộ gia đình hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận của chính bản thân người chủ doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn, chủ yếu vốn có được từ bản thân hoặc vay mượn xung quanh.
Các doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam chiếm đa số song lại nhỏ lẻ như kinh doanh cửa hàng bán xe đạp, máy tính,…và mỗi cá nhân chỉ được thành lập một doanh nghiệp tư nhân, không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty cổ phần hoặc công ty TNHH. Doanh nghiệp hợp danh 4 Công ty hợp danh phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung. Ngoài những thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn. Đối với các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Các thành viên hợp danh phải có trách nhiệm vô hạn, tức là mỗi thành viên đều phải có trách nhiệm về mặt pháp lý cho mọi khoản nợ của công ty mình. Đối với công ty hợp danh cũng không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào. Doanh nghiệp nhà nước Theo khoản 8, Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”. Doanh nghiệp nhà nước thường tập trung vào các ngành then chốt, có quy mô lớn, chịu sự quả lý, điều tiết, giám sát của cơ quan chủ quản và sẽ được ưu tiên về điều kiện chính sách, ưu tiên về vấn đề công nghệ, được chậm nộp thuế thậm chí có thể sẽ miễn thuế, hoãn nợ.2 Các hoạt động cơ bản của doanh nghiệp Phụ thuộc vào loại hình công ty cũng như mục tiêu cụ thể của công ty thì những công ty không giống nhau sẽ có những hoạt động không giống nhau.
Tuy nhiên sẽ có một số hoạt động cơ bản tồn tại trong mỗi công ty như: Hoạt động huy động vốn Hoạt động thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp thông qua nhiều kênh khác nhau như vay ngân hàng, phát hành chứng khoán,… là hoạt động huy động vốn. Các doanh nghiệp trước khi kinh doanh cần có vốn để xây nhà xưởng, văn phòng,…trong quá trình hoạt động cần vốn để mua vật liệu để, …sao cho hoạt động SX-KD không bị gián đoạn. Việc huy động được nguồn vốn mà chi phí vốn thấp sẽ tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu suất sử dụng. Do đó, trong quá trình huy động vốn doanh nghiệp luôn cần phải chú ý đến các vấn đề như chính sách huy động vốn (bao gồm các chính sách về quy mô, cơ cấu, chi phí, và kì hạn nguồn vốn huy động), các phương thức huy động 5 vốn (là việc cân nhắc, xem xét xem nên đưa VCSH hay nợ vào sử dụng, và sử dụng với cơ cấu là bao nhiêu thì được cho là hợp lý) và kết quả huy động vốn… Hoạt động sản xuất- kinh doanh Sản xuất là quá trình tạo ra sản phẩm để sử dụng hoặc để trao đổi trong thương mại.
Hoạt động sản xuất kinh doanh trong mỗi doanh nghiệp thường dựa trên 3 yếu tố: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Tùy thuộc vào mục tiêu, đối tượng mà mỗi doanh nghiệp sẽ lựa chọn phương thức cũng như sản phẩm phù hợp với mục đích của mình. Những thành phẩm được tạo ra sẽ được đem đi tiêu thu thu về vốn để tiếp tục quá trình SX-KD của công ty. Hoạt động đầu tư vốn Các doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đầu tư vốn vào hoạt động SX-KD chính của doanh nghiệp mình mà họ còn đầu tư vốn vào các lĩnh vực kinh doanh khác nhằm mục tiêu sinh lời, thu về nhiều lợi nhuận hơn. Mặc dù có thể thu về lợi ích kinh tế cao hơn song việc đầu tư có thể mang lại rủi ro cao hơn, kém an toàn do đó nhà đầu tư luôn phải cân nhắc, cẩn trọng, lựa chọn phương án thích hợp trước khi đưa ra quyết định đầu tư của mình.2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tài sản của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm, đặc điểm tài sản của doanh nghiệp Tài sản là một khái niệm quen thuộc được sử dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đến các lĩnh vực khoa học chuyên ngành như kinh tế, kế toán tài chính.
Cũng chính vì điều này nên tài sản không có một định nghĩa chính xác và hoàn chỉnh. Từ một số góc độ, tài sản được định nghĩa như sau: Theo Bộ Luật Dân sự 2015, điều 105: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, chuẩn mực số 01: “Tài sản là nguồn lực mà doanh nghiệp có thể kiểm soát, nắm giữ và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó”. Đối với doanh nghiệp tài sản được 6 biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc thiết bị, hàng hóa,.không biểu hiện dưới dạng hình thái vật chất như bằng sáng chế, bản quyền, thương hiệu. Từ những quan điểm trên ta có thể hiểu tài sản của doanh nghiệp là toàn bộ vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có thể tồn tại dưới dạng hữu hình hoặc vô hình, tham gia vào hoạt động SX-KD và có khả năng đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp.2 Phân loại tài sản của doanh nghiệp Dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau sẽ có nhiều cách khách nhau để phân loại tài sản của doanh nghiệp: - Dựa vào hình thái biểu hiện ta có thể phân loại tài sản thành hai loại là tài sản hữu hình và tài sản vô hình. - Theo tính chất sở hữu: tài sản được phân loại thành tài sản công, tài sản tư.
- Dựa theo tính chất vật lý, tài sản được phân loại thành động sản và bất động sản. - Dựa theo thời gian sử dụng, tài sản được phân loại thành tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối và thường đan xen với nhau. Để phù hợp hơn với bài nghiên cứu, em xin phép trình bày chi tiết về tài sản của doanh nghiệp phân loại dựa trên thời gian sử dụng.
Tài sản ngắn hạn (TSNH) TSNH là những tài sản có thời gian sử dụng hoặc thu hồi trong dưới hoặc bằng 12 tháng, hoặc được thu hồi trong vòng một chu kì kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp phân theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán bao gồm: - Tiền và những khoản tương đương tiền: phản ánh toàn bộ số tiền và các khoản tương đương tiền hiện có tại doanh nghiệp ở thời điểm báo cáo bao 7 gồm: vàng, bạc, kim khí, đá quý, tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn và tiền đang chuyển.