CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp là thành phần không thể thiếu của nền kinh tế, với mục đích chính là thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại nhằm tạo ra và cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho xã hội. Tuy nhiên, để tiến hành hoạt động sản xuất và kinh doanh thương mại, doanh nghiệp đòi hỏi phải hội tụ đủ 3 điều kiện là đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động.
Đồng thời, tài sản ngắn hạn là yếu tố sống còn, có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến tính liên tục và ổn định trong kinh doanh của doanh nghiệp. Đã có rất nhiều định nghĩa về tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, nổi bật trong số đó là “Tài sản ngắn hạn hay cũng gọi là tài sản lưu động là một khoản mục trong bảng cân đối kế toán bao gồm tất cả các loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt trong vòng một năm hay một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, các khoản đầu tư ngắn hạn, hàng tồn kho và những tài sản có tính thanh khoản khác.” (Trần Ngọc Thơ, 2009) “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyển sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu.
Cũng như tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn là một bộ phận không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp. Trong lĩnh vực sản xuất tài sản ngắn hạn được thể hiện dưới hình thái như nguyên vật liệu, vật đóng gói, phụ tùng thay thế. Trong lĩnh vực lưu thông nó tồn tại thay thế luân phiên cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục.” (Lưu Thị Hương, 2013) Theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp của Học viện ngân hàng của tác giả Lê Thị Xuân (2015) đã đưa ra định nghĩa: “Tài sản ngắn hạn là những tài sản có thời gian thu 4 hồi vốn thanh toán trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp.” Tóm lại, tài sản ngắn hạn thường được luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh, bao gồm tài sản bằng tiền, các chứng khoán có thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ hàng tồn kho. Do đó, tài sản ngắn hạn là biểu hiện bằng tiền giá trị những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà trên thời gian sử dụng thu hồi luân chuyển thường là một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh.
Phân loại tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Để thực hiện công tác quản lý tài sản ngắn hạn một cách khoa học và hiệu quả đòi hỏi nhà quản lý phải nắm rõ thành phần kết cấu, từ đó có các biện pháp điều chỉnh và nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn. Tùy chọn vào mục đích của nhà quản trị, chúng ta có nhiều khách hàng tiêu chuẩn khác nhau để phân loại tài sản ngắn hạn. Có hai tiêu thức phân loại thường được sử dụng: phân loại theo thể loại biểu hiện và phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn đối với quá trình sản xuất kinh doanh.
Hình thái biểu hiện tài sản ngắn hạn. Tiền, các khoản phải thu và các khoản đầu tư ngắn hạn: Căn cứ vào tính thanh khoản của tài sản, tài sản ngắn hạn bao gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền phản ánh số tổng số tiền hiện có của doanh nghiệp bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển và các khoản tương đương tiền. Tiền mặt: bao gồm tiền mặt tại quỹ và tiền gửi ngân hàng. Tiền đang chuyển: bao gồm các khoản tiền mặt, tiền séc đã xuất quỹ của doanh nghiệp đã nộp vào Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước đã gửi vào bưu điện để trả cho các đơn vị khác nhưng chưa nhận được giấy báo của ngân hàng.
Các khoản tương đương tiền: là các loại chứng khoán có tính thanh khoản rất cao (các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng), không có rủi ro trong chuyển đổi thành tiền. Đây là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất, nhằm đảm bảo khả năng thanh toán các nghĩa vụ phát sinh của doanh nghiệp, tránh rủi ro thanh toán. Tuy nhiên, đây là loại tài sản sinh lời rất ít thậm chí coi như không sinh lời, do đó doanh nghiệp chỉ dự trữ một lượng tiền mặt hợp lý. 5 Các khoản phải thu ngắn hạn: bao gồm các khoản phải thu khách hàng, phải thu về việc trả trước cho người bán, phải thu nội bộ (đây là các khoản mà doanh nghiệp bị các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp khác chiếm dụng.có thời hạn thanh toán hoặc thu hồi không quá 1 chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp (hoặc 1 năm).
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, các khoản phải thu chiếm tỷ trọng cao trong cơ cầu tài sản do hoạt động mua bán chịu giữa các bên diễn ra thường xuyên. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn là bỏ vốn mua các tài khoản có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng .) hoặc mua vào bán ra chứng khoán (như cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời và khác đầu tư tài khoản không quá một năm. Các khoản đầu tư này có thời hạn thu hồi hoặc kỳ hạn không quá 3 tháng kể từ ngày đầu tư tài khoản mua tại thời điểm báo các khoản đã được tính vào chi tiêu “Các khoản tương đương tiền”. Hàng tồn kho: Hàng tồn kho là danh mục nguyên vật liệu và sản phẩm hoặc chính bản thân nguyên vật liệu và sản phẩm đang được doanh nghiệp lưu trữ trong kho.
Hàng tồn kho bao gồm: Hàng tồn kho trong kho dự trữ: bao gồm các dự án tư vấn. Đó là chính vật liệu, phụ kiện vật liệu, tự nhiên, phụ tùng thay thế, vật đóng gói và công cụ dụng cụ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hàng tồn kho trong khẩu sản xuất: bao gồm các sản phẩm dở dang, bán thành phẩm (sản phẩm đang được chế tạo). Hàng tồn kho trong khâu tiêu thụ: bao gồm thành phẩm.
Đây là giá trị những thành phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho. Việc phân loại tài sản ngắn hạn theo hình thái biểu hiện cho phép doanh nghiệp xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Hơn nữa, doanh nghiệp có thể xác định được các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TSNH rõ ràng hơn để đưa ra biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng một cách cao nhất. Tài sản ngắn hạn bằng tiền thường bị ảnh hưởng 6 bởi tỷ giá ngoại tệ, lãi suất ngân hàng, còn TSNH bằng hiện vật sẽ bị ảnh hưởng bởi các nhân to như biến động giá cả nguyên vật liệu đầu vào, giá bán hàng hóa, rủi ro trong khâu tiêu thụ.
Vai trò của tài sản ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tài sản ngắn hạn dự trữ: Nguyên vật liệu chính hay bán thành phẩm mua ngoài: là những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào sản xuất sẽ cấu tạo nên thực thể sản phẩm. Nhiên liệu: là những loại dự trữ cho sản xuất có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất như than, củi, xăng dầu. Phụ tùng thay thế: là giá trị của những chi tiết, phụ tùng, linh kiện máy móc thiết bị dự trữ phục vụ cho việc sửa chữa hoặc thay thế những bộ phận của máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải.
Vật liệu đóng gói: là những vật liệu dùng để đóng gói trong quá trình sản xuất như giấy gói, hộp. Công cụ lao động nhỏ có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và giữ nguyên hình thái vật chất nhưng giá trị nhỏ, không đủ tiêu chuẩn tải sản cổ định. Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: bao gồm hàng mua đang đi đường, sản phẩm dở dang: Hàng mua đang đi đường: là giá trị hàng hóa mà doanh nghiệp mua hoặc đặt mua đã thanh toán và đang trên đường vận chuyển chưa được nhập kho. Sản phẩm dở dang: sản phẩm chưa hoàn thành hoặc sản phẩm hoàn thành nhưng chưa làm thủ tục nhập kho.
Tài sản ngắn hạn trong lưu thông là các loại hàng hóa, thành phẩm: Hàng hóa: là thành phẩm đã được nhập kho và có thể xuất kho bất cứ lúc nào để tiêu thụ ra thị trường. Thành phẩm: là những sản phẩm đã hoàn thành, nhập kho và chờ tiêu thụ. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn được phân bổ trong tất cả các công đoạn đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục, ổn định và tránh lãng phí gây tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng tới khả năng thanh toán.
TSNH liên tục thay đổi hình thái biểu hiện trong suốt quá trình kinh doanh, đối với các doanh nghiệp sản xuất: T –H –SX –H’ –T’, đối với các doanh nghiệp thương mại: T – H – T’. Đối với doanh nghiệp kinh doanh du lịch: Các sản phẩm của hoạt động du lịch và dịch vụ thường không có hình thái vật chất, quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm được tiến hành tại cùng một thời điểm.Bùi Văn Vần & Vũ Văn Ninh (2013), giáo trình “Tài chính doanh nghiệp", NXB Tài chính đưa ra một số đặc điểm chính của tài sản ngắn hạn như sau: Một là, tài sản ngắn hạn có thời gian luân chuyển trong một chu kỳ kinh doanh, đây là đặc điểm dễ nhận biết và phân biệt với tài sản dài hạn. Nguyễn Thị Đông, “Hạch toán kế toán trong doanh nghiệp", Hà Nội, năm 2008, trang 18 đưa ra định nghĩa về tài sản dài hạn “Tài sản dài hạn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những tài sản của doanh nghiệp có thời gian luân chuyển dài (thường là trên 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh)". Hai là, tài sản ngắn hạn sẽ chuyển hết toàn bộ giá trị vào sản phẩm trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Do đó, mọi chi phí phát sinh trong quá trình chuyển hóa tài sản ngắn hạn thành sản phẩm hoàn thiện đều được ghi nhận vào giá thành của sản phẩm.