phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo được chia thành 4 chương nội dung chính như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quản lý tài chính của Công ty cổ phần; Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu đề tài; Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Công ty CP Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao; Chƣơng 4: Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty CP Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Một số khái niệm và những đặc điểm cơ bản của công ty cổ phần 1. Khái niệm về Công ty cổ phần Công ty cổ phần là một hình thức doanh nghiệp.
Một số định nghĩa về doanh nghiệp như sau: Xét theo quan điểm chức năng: "Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy” (M. Xét theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được (sách "kinh tế doanh nghiệp“ của D. A Caillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, 1992 ) Điều 4 của Luật doanh nghiệp 2005 có định nghĩa: “ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Theo Luật doanh nghiệp năm 2005, Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó: - Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; - Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; - Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 6 - Cổ đông có thể là tổ chức; cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; - Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; - Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại ra công chúng để huy động vốn. Vai trò của Công ty cổ phần trong nền kinh tế quốc dân Vai trò của Công ty cổ phần trong nên kinh tế quốc dân được thể hiện ở các điểm sau đây Thứ nhất, Công ty cổ phần góp phần hình thành nên thị trường vốn của nền kinh tế Thông qua thị trường chứng khoán, Công ty cổ phần góp phần làm cho khả năng tập trung vốn được nâng cao, đáp ứng được nhu cầu sản xuất với quy mô lớn và công nghệ kỹ thuật tiên tiến- những yêu cầu mà từng nhà kinh doanh riêng biệt không thể tự mình có đủ vốn. Công ty cổ phần là cơ sở kinh tế chủ yếu cho ngân hàng và các tổ chức tài chính hình thành lên thị trường vốn của nền kinh tế. Bằng hình thức gọi vốn cho công ty cổ phần thông qua thị trường chứng khoán, chúng ta mới huy động được nguồn vốn nhàn rỗi rất lớn hiện nay còn đang nằm trong các tầng lớp dân cư.
Thứ hai, Công ty cổ phần góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng của đồng vốn Phương án sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần không do nhà nước hay ngân hàng quyết định mà là quyết định của chính công ty. Hơn nữa hình thức tự cấp phát tài chính bằng việc huy động các nguồn vốn trong dân cư sẽ nâng cao trách nhiệm và sự quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần. Mặt khác do sức ép của cổ đông trong việc chia lãi cổ phần, và muốn duy trì giá cổ phiếu cao trên thị trường chứng khoán, các công ty sẽ phải phấn đấu nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vốn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 7 Thứ ba, Công ty cổ phần góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự điều tiết thị trường Do lợi nhuận của các công ty cổ phần khác nhau trong các lĩnh vực hoạt động là khác nhau, nên qua hoạt động của công ty cổ phần có thể dẫn dắt tiền vốn nhàn rỗi từ nhiều nguồn khác nhau trong xã hội vào các lĩnh vực, vào các ngành có năng suất lao động và tỷ suất lợi nhuận cao.
Từ đó, làm cho vốn được phân bổ và sử dụng có hiệu quả trong nền kinh tế, tập trung vào các ngành kinh tế mũi nhọn, kinh tế trọng điểm. Đặc biệt trong điều kiện cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay thì Nhà nước bằng hình thức tham dự cổ phần , có thể can thiệp để điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự điều tiết thị trường có hiệu quả. Thứ tư, Công ty cổ phần có khả năng phối hợp các lực lượng kinh tế khác nhau, duy trì được mối quan hệ kinh tế giữa các thành viên. Cổ đông của Công ty cổ phần có thể là cá nhân, tổ chức và Nhà nước - những thành phần có vốn nhàn rỗi.
Các thành viên này cùng tồn tại và phát huy những thế mạnh riêng do đó làm giảm đến mức thấp nhất sự ngưng trệ của các nguồn vốn và đảm bảo sự liên tục của các hoạt động kinh doanh. Thứ năm, Công ty cổ phần là hình thức liên doanh tốt nhất để tranh thủ sự tham gia đầu tư của nước ngoài. Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho sự nghiệp phát triển kinh tế là rất cần thiết với hiện trạng kinh tế nước ta hiện nay. Hình thức liên doanh góp vốn cổ phần với nước ngoài sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có đủ sức mạnh về mọi mặt như: vốn , kỹ thuật, năng lực quản lý để đáp ứng yêu cầu này.
Như vậy, công ty cổ phần là một phương pháp tổ chức sản xuất kinh doanh giúp huy động khai thác, sử dụng vốn đạt hiệu quả cao. Đặc điểm của công ty cổ phần Công ty cổ phần có những đặc điểm cơ bản giúp phân biệt loại hình này với các loại hình công ty khác. Cụ thể như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 8 - Về cổ đông công ty cổ phần Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn. Ở loại hình này, vốn được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông của công ty.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, Công ty cổ phần không giới hạn số lượng cổ đông mà chỉ quy định số cổ đông tối thiểu (ít nhất là ba). Quyền sở hữu cổ phần là căn cứ để xác định tư cách cổ đông của các thành viên. -Về vốn điều lệ của công ty cổ phần Vốn điêu lệ của công ty cổ phần là tập hợp các phần vốn do các cổ đông góp và được ghi vào Điều lệ công ty. Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau.
Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần. -Về phát hành chứng khoán Trong quá trình hoạt động, Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu. Cơ chế huy động vốn này còn giúp cho Công ty cổ phần có khả năng chủ động được về nguồn huy động vốn mỗi khi cần nguồn vốn lớn. Sự chủ động này góp phần quan trọng trong sự thành công của loại hình doanh nghiệp này.
-Về chế độ chịu trách nhiệm Khác với doanh nghiệp tư nhân, chế độ chịu trách nhiệm của Công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn. Công ty cổ phần chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng tài sản của công ty. Các cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. -Về chuyển nhượng vốn Ngoại trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của các sáng lập viên trong ba năm đầu, các cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Lý luận chung về công tác quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần 1. Hoạt động tài chính tại công ty cổ phần 1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động tài chính tại công ty cổ phần a.
Khái niệm Tài chính DN phản ánh các mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các nguồn kinh tế của DN trong quá trình hoạt động (Corporate Finance, Stephen Ross & Randolph W. Về nội dung, tài chính DN phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa DN với các bên có liên quan trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ. Về hình thức, tài chính DN phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn lực kinh tế trong quá trình phân phối, tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của DN. Hoạt động tài chính bao gồm các hoạt động phân phối lần đầu và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị (Jonathan Berk and Peter DeMarzo, 2010).
Tổng sản phẩm xã hội được hiểu là toàn bộ các sản phẩm do một nền kinh tế sản xuất ra và được thị trường chấp nhận (tức là có thể tiêu thụ trên thị trường). Hoạt động phân phối giá trị các sản phẩm xã hội được thực hiện dưới hình thái tiền tệ, nói một cách rõ ràng hơn, hoạt động phân phối trong tài chính là phân phối bằng tiền chứ không phải phân phối bằng hiện vật. Hoạt động tài chính không chỉ liên quan đến việc hình thành các quỹ tiền tệ mà cả việc sử dụng các quỹ tiền tệ đó một khi việc sử dụng đó lại dẫn đến việc hình thành một quỹ tiền tệ khác.