Chương 1: Tổng quan nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh và phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Chương 2: Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh và phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần Đầu tư & Thương mại Steeltec Hà Nội Chương 4: Các kết luận và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần Đầu tư & Thương mại Steeltec Hà Nội Luan van 5 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 2. Một số định nghĩa khái niệm cơ bản: 2. Khái niệm vốn kinh doanh * Khái niệm chung về vốn kinh doanh Đứng trên mỗi góc độ và quan điểm khác nhau, với mục đích nghiên cứu khác nhau thì có những quan niệm khác nhau về vốn. Theo quan điểm của C.Mác – nhìn nhận dưới góc độ của các yếu tố sản xuất thì C.Mác cho rằng: “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”.Mác quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.
Đây là một hạn chế trong quan điểm của C. Trong cuốn kinh tế học của David Beeg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa về vốn: Vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp. “Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá, sản phẩm đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác. Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá trị của doanh nghiệp” (Theo sách kinh tế học – Nhà Xuất bản thống kê năm 2007- do nhóm giảng viên ĐH KTQD dịch từ tác giả David Beeg.) Vốn còn được coi là một trong bốn yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp: vốn, nhân lực, công nghệ và tài nguyên.
Vì vậy vốn đóng một vai trò hết sức quan trọng. “Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”. (Theo giáo trình tài chính doanh nghiệp – Nhà xuất bản Thống kê năm 2007 của PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm, TS Bạch Đức Hiển). Nhìn chung, các nhà kinh tế đã thống nhất ở điểm chung cơ bản: Vốn là yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ cung cấp cho thị trường.
Như vậy, vốn của doanh nghiệp là biểu hiện Luan van 6 bằng tiền của toàn bộ vật tư, tài sản, được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy vốn là một loại hàng hoá đặc biệt. * Khái niệm vốn cố định và vốn lưu động Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển vốn thì vốn kinh doanh được chia thành hai loại: vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp.
Đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần, từng phần trong nhiều chu kì sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng. (Giáo trình tài chính doanh nghiệp – PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm, Nhà xuất bản thống kê năm 2007) Vốn lưu động: là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động được đầu tư vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy vốn lưu động bao gồm những giá trị của tài sản lưu động như: nguyên vật liệu chính, phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ, thành phẩm, hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm, vật tư thuê ngoài chế biến, vốn tiền mặt, thành phẩm trên đường gửi bán. (Giáo trình tài chính doanh nghiệp – PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm, Nhà xuất bản thống kê năm 2007) Đặc điểm của vốn lưu động là thường xuyên vận động, luôn thay đổi hình thái biểu hiện qua các khâu của quá trình kinh doanh và giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị của hàng hoá tiêu thụ và kết thúc một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Khái niệm về hiệu quả kinh doanh: Hiệu quả là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu xác định với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả kinh doanh theo nghĩa chung nhất được hiểu là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt được từ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Hay nói cách khác hiệu quả kinh doanh bao gồm hai mặt: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội trong đó hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định. Luan van 7 Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau.
Nó vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn ở từng nơi từng lúc. Hiệu quả kinh tế dễ xác định, có thể đo lường bằng các chỉ tiêu để đánh giá mức độ tổng hợp đặc thù. Hiệu quả xã hội thì khó xác định bằng các chỉ tiêu cụ thể. Hiệu quả xã hội chỉ được kết hợp đánh giá đan xen cùng hiệu quả kinh tế.
Từ khái niệm trên, hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa kết quả với chi phí và được xác định bằng công thức như sau: Hiệu quả Kết quả “đầu ra” kinh doanh = Chi phí “đầu vào” Hiệu quả chính là lợi ích tối đa thu được trên chi phí tối thiểu. Hiệu quả kinh doanh là kết quả “đầu ra” trên chi phí “đầu vào” tối thiểu. Vậy, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là toàn bộ quá trình doanh nghiệp sử dụng hợp lý các nguồn lực có sẵn của mình: vốn, lao động, kỹ thuật…trong hoạt động kinh doanh để đạt kết quả mong muốn, cụ thể là lợi nhuận được tối đa hóa. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nhằm mục đích nhận thức và đánh giá tình hình biến động tăng giảm các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, qua đó phân tích những nguyên nhân tăng giảm và đề ra những chính sách, biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Một số nội dung lý thuyết về phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty cổ phần 2. Đặc điểm của Công ty cổ phần * Khái niệm Công ty cổ phần Công ty cổ phần là một thể chế kinh doanh, một loại hình doanh nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông. * Đặc điểm về nguồn vốn Công ty Cổ phần Luan van 8 Căn cứ vào nguồn gốc hình thành vốn, vốn của Công ty cổ phần được chia thành: Vốn chử sở hữu (vốn tự có) và vốn tín dụng (vốn vay) + Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc sở hữu của Công ty, được hình thành từ nguồn đóng góp của cổ đông (vốn điều lệ) và vốn do công ty cổ phần tự bổ sung từ lợi nhuận của Công ty Số vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia nhỏ thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông.
Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu. Chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu chính là một bằng chứng xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một Công ty Cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu. Công ty cổ phần là một trong loại hình công ty căn bản tồn tại trên thị trường và nhất là để niêm yết trên thị trường chứng khoán + Vốn tín dụng: là nguồn vốn hình thành từ việc đi vay dưới các hình thức khác nhau: vay ngân hàng, vay các tổ chức, cá nhân khác hoặc vay bằng cách phát hành trái phiếu.
Khi các chủ thể kinh doanh muốn mở rộng quy mô có hai cách để huy động vốn đó là tăng vốn chủ sở hữu và tăng vốn vay 2. Các dữ liệu phân tích hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Cơ sở dữ liệu để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là các báo cáo tài chính của công ty gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Báo cáo kết quả kinh doanh và Bản thuyết minh báo cáo tài chình của công ty năm 2009, 2010: - Các chỉ tiêu tài chính do doanh nghiệp xây dựng như: Kế hoạch huy động các nguồn vốn, kế hoạch phân phối, sử dụng vốn và các chỉ tiêu tài chính khác. - Bảng cân đối kế toán doanh nghiệp B01/DN - Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (B02/DN - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (nếu có ) Luan van 9 - Báo cáo chi tiết về tình hình tăng, giảm tài sản, nguồn vốn, công nợ phải thu, phải trả. - Báo cáo về tình hình tài sản thừa thiếu chờ xử lý - Các chế độ, chính sách quản lý kinh tế tài chính của nhà nước, của ngành và của doanh nghiệp.
Tổng quan tình hình nghiên cứu về phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại các doanh nghiệp qua các công trình nghiên cứu từ những năm trước: Qua tìm hiểu kết quả nghiên cứu của những năm trước em nhận thấy rằng đã có nhiều luận văn viết về vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh vì có lẽ hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh đang là vấn đề cần được quan tâm và nghiên cứu của nhiều doanh nghiệp. Một số luận văn đã nghiên cứu đề tài này như: “ Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần quốc tế Sơn Hà” của tác giả Đàm Trà My – Đại học Thương Mại năm 2009. “ Phân tích tình hình và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần xây dựng 78” của tác giả Lê Thị Thúy Hằng – Đại học Thương Mại năm 2009. Những luận văn này cùng nghiên cứu đến vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nhưng tại các doanh nghiệp khác nhau.
Các tác giả đều tìm ra được những hạn chế về việc sử dụng vốn kinh doanh trong công ty mà họ thực hiện việc phân tích số liệu và từ đó đưa ra được các giải pháp khắc phục những mặt còn tồn tại đó giúp cho nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp được sử dụng một cách có hiệu quả.