CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản ngắn hạn Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý tài sản ngắn hạn đóng vai trò quan trọng đến việc tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Định nghĩa về tài sản ngắn hạn đã có nhiều định nghĩa khác nhau, mỗi định nghĩa lại có những giá trị riêng.TS Lưu Thị Hương và PGS.TS Vũ Duy Hào, thì: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật dưới dạng đầu tư ngắn hạn hoặc các khoản nợ phải thu. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm vốn bằng tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn khác” [2, tr.TS Nguyễn Ngọc Quang: “Tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn hạn trong thời gian 12 tháng hoặc một chu kì kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được thể hiện trên bảng cân đối kế toán bao gồm: Tiền mặt, chứng khoán thanh khoản cao, khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu khách hàng và khoản dự trữ hàng tồn kho” [6, tr.Trần Ngọc Thơ: “Tài sản ngắn hạn hay cũng gọi là tài sản lưu động là một khoản mục trong bảng cân đối kế toán bao gồm tất cả loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt trong vòng một năm hay trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho và những tài sản có tính thanh khoản khác” [8, tr. Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 của Bộ tài chính, quy định: “Tài sản ngắn hạn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có thể chuyển đổi thành tiền, có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo, gồm: Tiền, các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác”. Như vậy, dù có rất nhiều quan điểm về tài sản ngắn hạn hoặc dùng ngôn từ diễn đạt có khác nhau, song ta có thể hiểu một cách khái quát: Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một 1 Thư viện ĐH Thăng Long kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu.
Cũng như tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn là bộ phận không thể thiếu của mỗi doanh nghiệp. Trong lĩnh vực sản xuất tài sản ngắn hạn được thể hiện dưới hình thái như nguyên vật liệu, vật đóng gói, phụ tùng thay thế. Trong lĩnh vực lưu thông nó tồn tại thay thế cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Trong quá trình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được phân bổ trong tất cả các khâu, các công đoạn để đảm bảo hoạt động được diễn ra ổn định và liên tục.
Do vậy, đặc điểm của tài sản ngắn hạn là vận động không ngừng, luôn thay đổi hình thái biểu hiện qua các khâu và giá trị được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị hàng hóa khi kết thúc một chu kì sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, vì có tính lỏng nên tài sản ngắn hạn dễ dàng đáp ứng các khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tuy nhiên có thể chuyển hóa linh hoạt từ dạng vật chất sang dạng tiền tệ nên tài sản ngắn hạn cũng vận động rất phức tạp và khó quản lý. Các đặc điểm của tài sản ngắn hạn cụ thể như sau: Được hình thành từ nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp: Nguồn vốn kinh doanh là điều kiện mà các doanh nghiệp phải có để bắt đầu quá trình hoạt động kinh doanh. Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu để hình thành lên tài sản ngắn hạn.
Vì vậy, tài sản ngắn hạn được hình thành từ nguồn vốn kinh doanh và tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp. Toàn bộ giá trị được chuyển một lần vào thành phẩm và thu hồi thông qua doanh thu bán hàng: Theo PGS. Nguyễn Năng Phúc: “Tài sản ngắn hạn tham gia vào quá trình kinh doanh, phần lớn chuyển vào thành phẩm và thu hồi về thông qua doanh thu bán hàng. Khi đó thời gian bán và tiêu thụ hàng hóa của các doanh nghiệp là khác nhau phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và loại hình doanh nghiệp, song đa phần chỉ cần mất thời gian là một năm để toàn bộ tài sản ngắn hạn đó có thể luân chuyển một vòng và thu về bằng tiền” [5, tr.
Tồn tại dưới nhiều hình thái biểu hiện khác nhau: Vì tài sản ngắn hạn tham gia vào tất cả các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó, tài sản ngắn hạn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau để đáp ứng cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, thuận tiện. Tài sản ngắn hạn có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau như: tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho. 2 Được phân bổ trong tất cả các khâu: Tài sản ngắn hạn phục vụ cho toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh.
Do đó, khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn được phân bổ vào tất cả các khâu và luôn vận hành, thay thế, chuyển hóa cho nhau qua các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh. Có tính thanh khoản cao: Tài sản ngắn hạn chia làm năm loại và được sắp xếp theo tính thanh khoản từ cao đến thấp như sau: tiền mặt, đầu tư ngắn hạn, khoản phải thu, các khoản ứng trước ngắn hạn và hàng tồn kho. Trong đó, tiền mặt có tính thanh khoản cao nhất, luôn được dùng trực tiếp để thanh toán, lưu thông, tích trữ, hàng tồn kho có tính thanh khoản thấp vì phải trải qua giai đoạn phân phối và tiêu thụ chuyển thành khoản phải thu, rồi mới chuyển thành tiền mặt. Dù các tài sản này có thể chuyển đổi ngay thành tiền hay mất thời gian chờ đợi thì thời gian chuyển đổi cũng diễn ra trong vòng 1 năm hay một kỳ kinh doanh.
Do vậy tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao. Phân loại tài sản ngắn hạn 1. Phân loại theo quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ Là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu dữ trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đi đường, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ trong kho, trả trước cho người bán… Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất Là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu sản xuất của doanh nghiệp bao gồm: giá trị bán thành phẩm, chi phí kinh doanh sản xuất dở dang, chi trả trước. Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông Là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu lưu thông của doanh nghiệp bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, các khoản nợ phải thu của khách hàng.
Theo cách phân loại này giúp các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn để đưa các ra các biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn một cách cao nhất. Phân loại theo các tài khoản trong bảng cân đối kế toán Tiền và các khoản tương đương tiền Tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, tiền dưới dạng séc các loại. Tiền là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất, đứng đầu tiên bên tài sản trên bảng cân đối kế toán. Loại tài sản này có thể dễ dàng chuyển đổi thành các 3 Thư viện ĐH Thăng Long tài sản khác hoặc thanh toán các nghĩa vụ tài chính cho doanh nghiệp, bởi vậy nó cho phép doanh nghiệp duy trì khả năng chi trả và phòng tránh rủi ro thanh toán.
Bên cạnh đó các tài sản dạng đặc biệt như: vàng, bạc, đá quý, kim khí quý được dùng chủ yếu cho mục đích dự trữ. Tuy nhiên, tiền mặt cũng là loại tài sản không hoặc gần như không sinh lời, bởi vậy việc giữ tiền mặt ở mức độ nào để vừa đảm bảo an toàn vừa tiết kiệm vốn lại là một câu hỏi cần nhà quản trị tài chính chú trọng giải quyết. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Mục tiêu của các doanh nghiệp là việc sử dụng các loại tài sản sao cho hiệu quả nhất. Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt vì nếu số dư tiền mặt nhiều, doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán có khả năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí.
Do đó trong quản trị tài chính, chứng khoán có khả năng thanh khoản cao được sử dụng để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn. Song vẫn đảm bảo tạo thu nhập cho doanh nghiệp. Các khoản phải thu ngắn hạn Các khoản phải thu ngắn hạn của doanh nghiệp là một loại tài sản mà doanh nghiệp tính dựa trên tất cả các khoản nợ, các khoản giao dịch chưa thanh toán. Các khoản phải thu được kế toán doanh nghiệp ghi lại và phản ánh trên bảng cân đối kế toán, bao gồm tất cả các khoản nợ doanh nghiệp chưa đòi được, tính cả các khoản nợ chưa thanh toán.
Các khoản phải thu được ghi nhận như tài sản của doanh nghiệp vì chúng phản ánh các khoản tiền sẽ được thanh toán trong tương lai.