Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG I. Những vẫn đề cơ bản về tài sản lưu động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 1. Khái niệm tài sản lưu động Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Tài sản lưu động được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
Giá trị các loại tài sản lưu động của doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Quản lý sử dụng hợp lý các loại tài sản lưu động có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Đặc điểm tài sản lưu động Tham gia vào chu trình kinh doanh Thay đổi hình thái vật chất ban đầu để cấu tạo nên thực thể sản phẩm Giá trị luân chuyển một lần vào giá thành sản phẩm làm ra 3. Phân loại tài sản lưu động Tài sản lưu động có thể được phân loại khác nhau tuỳ theo mục đích và tiêu chí áp dụng.
Có thể phân loại các tài sản lưu động theo khả năng chuyển đổi và đặc điểm kinh tế của từng nhóm như sau: a. Tiền (Cash) Tất cả tiền mặt tại quỹ, tiền trên các tài khoản ngân hàng và tiền đang chuyển (bao gồm cả nội tệ và ngoại tệ) đều thuộc nhóm “tài sản bằng tiền”. Tiền (hoặc vốn bằng tiền) không phải chỉ là tiền mặt. Trong lĩnh vực tài chính kế toán, tài sản bằng tiền của một doanh nghiệp bao gồm các khoản: Tiền mặt Tiền gửi ngân hàng Tiền dưới dạng séc các loại SV: Lê Quang Tiến 3 MSV: 11123970 Chuyên đề thực tập GVHD: Th.
Nguyễn Thành Trung Tiền trong thẻ tín dụng và các loại tài khoản thẻ ATM b. Vàng bạc, đá quý và kim khí quý Đây là nhóm tài sản đặc biệt, chủ yếu phục vụ cho mục đích dự trữ. Tuy nhiên trong một số ngành như ngân hàng, tài chính hoặc bảo hiểm, giá trị của vàng bạc, đá quý, kim khí quý và kim cương có thể rất lớn. Các tài sản tương đương với tiền Nhóm này gồm các tài sản tài chính có khả năng chuyển đổi cao, dễ bán, dễ chuyển đổi thành tiền khi cần thiết.
Tuy nhiên không phải tất cả các loại chứng khoán đều thuộc nhóm này. Chỉ có các chứng khoán ngắn hạn dễ bán mới được coi là tài sản lưu động thuộc nhóm này. Ngoài ra các loại giấy tờ thương mại ngắn hạn, được đảm bảo hoặc có độ an toàn cao thì cũng thuộc nhóm này. Ví dụ như hối phiếu ngân hàng, kỳ phiếu thương mại, bộ chứng từ hoàn chỉnh… d.
Chi phí trả trước Chi phí trả trước bao gồm các khoản tiền mà công ty đã trả trước cho người bán, nhà cung cấp hoặc cho các đối tượng khác. Một số khoản trả trước có thể có mức độ rủi ro cao vì phụ thuộc vào một số yếu tố khó dự đoán trước. Các khoản phải thu Các khoản phải thu là một loại tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty kinh doanh thương mại, mua bán hàng hoá. Hoạt động mua bán chịu giữa các bên phát sinh các khoản tín dụng thương mại, Thực ra các khoản phải thu gồm nhiều khoản mục khác nhau tuỳ theo tính chất của quan hệ mua bán, quan hệ hợp đồng.
Tiền đặt cọc Trong nhiều trường hợp, các bên liên quan đễn hợp đồng phải đặt cọc một số tiền nhất định. Phần lớn các điều khoản về tiền đặt cọc quy định theo hai cách: Số tiền đặt cọc tính theo tỷ lệ phần trăm giá trị hợp đồng hoặc giá trị tài sản được mua bán Số tiền đặt cọc được ấn định bằng một số tiền cụ thể hoặc một trị giá tối thiểu cho hợp đồng SV: Lê Quang Tiến 4 MSV: 11123970 Chuyên đề thực tập GVHD: Th. Nguyễn Thành Trung Trong các trường hợp bên đặt cọc thực hiện trôi chảy hợp đồng thì họ có quyền lấy lại tiền đặt cọc. Nếu có sự vi phạm hoặc huỷ bỏ hợp đồng hoặc không tiếp tục tham gia (ví dụ đấu thầu) thì họ có thể bị mát tiền đặt cọc.
Như vậy tiền đặt cọc là một khoản mục tài chính không chắc chắn, độ tin cậy có thể giao động lớn từ 90% đến 30%. Do tính chất là một tài sản đảm bảo như vậy nên mặc dù tiền đặt cọc thuộc về tài sản lưu động nhưng nó không được các ngân hàng tính đến khi xác định khả năng thanh toán bằng tiền của doanh nghiệp g. Hàng hoá vật tư Hàng hoá vật tư còn được gọi là hàng tồn kho. “Hàng tồn kho” trong khái niệm này không có nghĩ là hàng hoá bị ứ đọng, không bán được mà thực chất bao hàm toàn bộ các hàng hoá vật liệu, nguyên liệu đang tồn tại trong các kho, quầy hàng hoặc trong xưởng.
Trên thực tế, hàng hoá tồn khi có thể bao gồm hàng trăm chủng loại khác nhau, tuy nhiên có thể gộp lại thành những nhóm sau: Nguyên liệu, vật liệu chính Vật liệu phụ, vật liệu bổ trợ Nhiên liệu và các loại dầu mỡ Thành phẩm Sản phẩm sở dang và bán thành phẩm Công cụ nhỏ, các dụng cụ lao động thuộc tài sản lưu động Phụ tùng thay thế Sản phẩm hỏng và các loại khác h. Các chi phí chờ phân bổ Trong thực tế, một khối lượng nguyên vật liệu và một số khoản chi phí đã phát sinh nhưng có thể chưa được phân bổ vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ. Nhưng khoản này sẽ được đưa vào giá thành trong khoảng thời gian thích hợp 4. Kết cấu tài sản lưu động Kết cấu tài sản lưu động phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa thành phần trong tổng số tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp khác SV: Lê Quang Tiến 5 MSV: 11123970 Chuyên đề thực tập GVHD: Th. Nguyễn Thành Trung nhau sẽ có kết cấu tài sản lưu động khác nhau, việc phân tích kết cấu tài sản lưu động theo các tiêu chí sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ về đặc điểm của tài sản lưu động mình đang sử dụng, thông qua đó có thể đề ra các phương thức quản lý hiệu quả, phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, thông qua việc tìm hiểu sự thay đổi của kết cấu tài sản lưu động qua các thời kỳ, doanh nghiệp sẽ thấy được những ưu điểm và nhược điểm của công tác quản lý tài sản lưu động. Kết cấu của tài sản lưu động luôn thay đổi do chịu tác động của nhiều yếu tố.
Có thể phân ra thành ba nhóm như sau: Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như khoảng cách giữa nhà cung cấp và doanh nghiệp, khả năng cung cấp của thị trường, kỳ hạn giao hàng và khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng, đặc điểm thời vụ của chủng loại vật tư cung cấp, giá cả của vật tư… Các nhân tố về mặt sản xuất như mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo, đặc điểm công nghệ - kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp, trình độ tổ chức sản xuất, độ dài của chu kỳ sản xuất… Các nhân tố về mặt thanh toán như phương thức thanh toán được lựa chọn theo các hợp đồng bán hàng, việc chấp hành kỷ luật thanh toán giữa các doanh nghiệp, thủ tục thanh toán… 5. Nguồn hình thành tài sản lưu động của doanh nghiệp Trong doanh nghiệp, tài sản lưu động được hình thành bởi nhiều nguồn vốn khác nhau, mỗi loại nguồn vốn lại có tính chất, đặc điểm và chi phí sử dụng khác nhau. Các doanh nghiệp cần phải lựa chọn sử dụng một cơ cấu nguồn vốn tối ưu nhất, vừa đảm bảo an toàn cho tình hình tài chính cho doanh nghiệp, vừa giảm thiểu chi phí sử dụng vốn. Tài sản lưu động được hình thành bởi các loại nguồn vốn như sau: Theo quan hệ sở hữu về vốn Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
tuỳ từng loại hình doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể như vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra, vốn góp cổ phần, vốn góp liên doanh, vốn bổ sung từ lợi nhuận SV: Lê Quang Tiến 6 MSV: 11123970 Chuyên đề thực tập GVHD: Th. Nguyễn Thành Trung giữ lại, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước. Vốn chủ sở hữu thể hiện khả năng tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp. Tỷ tọng vốn chủ sở hữu trong tổng vốn càng cao thì doanh nghiệp có được sự độc lập về tài chính càng lớn.
Vốn nợ: là các khoản tài sản lưu động hình thành từ các khoản vay của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ chưa thanh toán của khách hàng Theo thời gian huy độn và sử dụng vốn Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn mang tính ổn định và dài hạn, bao gồm vốn chủ sở hữu, các khoản vay dài hạn để tài trợ cho nhu cầu tài sản lưu động thường xuyên của doanh nghiệp. Nguồn vốn thường xuyên bằng tổng nguồn vốn trừ đi phần nợ ngắn hạn Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, gồm các khoản vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác trong ngắn hạn, các khoản nợ ngắn hạn khác được dùng để đáp ứng nhu cầu tài sản lưu động có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn tạm thời bằng vốn vay ngắn hạn cộng với vốn chiếm dụng hợp pháp Theo phạm vi huy động vốn Nguồn vốn bên trong của doanh nghiệp: là nguồn vốn có thể huy động từ bản thân doanh nghiệp, bao gồm vốn từ lợi nhuận để lại trong quá tình kinh doanh, các quĩ của doanh nghiệp, các khoản thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản… Sử dụng triệt để nguồn vốn bên trong của doanh nghiệp sẽ phát huy được tính chủ động trong việc sử dụng và quản lý tài sản lưu động của mình Nguồn vốn bên ngoài của doanh nghiệp: là nguồn vốn doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài, bao gồm vốn của bên liên doanh, vốn vay của các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, nợ người cung cấp, nợ khách hàng và các khoản nợ khác.