CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm về tài sản trong doanh nghiệp Tài sản là một khái niệm quen thuộc được sử dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Đây là một thuật ngữ được nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau trong lĩnh vực khoa học chuyên ngành như kinh tế, pháp lý, kế toán tài chính. Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam:”Tài sản là thuật ngữ kế toán kinh doanh chỉ tất cả những gì có giá trị tiền tệ thuộc sở hữu của một cá nhân, một đơn vị hoặc của nhà nước, có thể dùng để trả nợ, sản xuất ra hàng hóa hay tạo ra lợi nhuận bằng cách nào đó. Một tài sản có ba đặc tính không thể thiếu, lợi nhuận kinh tế có thể xảy ra trong tương lai, một thực thể hợp pháp kiểm soát, thu được kết quả ngay từ hợp đồng kinh doanh hoặc giao dịch đầu tiên”. Theo chuẩn mực kế toán quốc tế:”Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát là kết quả của những hoạt động trong quá khứ mà từ đó một số lợi ích kinh tế trong tương lai có thể dự kiến trước một cách hợp lý”.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 4 ban hành kèm theo quyết định số 149 ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính: “Tài sản là một nguồn lực doanh nghiệp kiểm soát được và dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp”. Theo điều 105, chương VII, Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, ngày 24/11/2015 của Quốc hội: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.
Như vậy ta có thể hiểu tài sản của doanh nghiệp là vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của doanh nghiệp, được doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động của mình. Tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản ngắn hạn (TSNH) và tài sản dài hạn (TSDH). Đặc điểm của tài sản trong doanh nghiệp 1. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Theo Lưu Thị Hương và Ngô Thị Quyên, đặc điểm của TSNH được nêu lên như sau: “TSNH của doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: Dự trữ - sản xuất – lưu thông, quá trình này gọi là quá trình tuần hoàn và lưu chuyển của TSNH.
Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, TSNH lại thay đổi hình thái biểu hiện. TSNH chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của tài sản được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Như vậy, sau mỗi chu kỳ kinh doanh 1 thì TSNH hoàn thành một vòng chu chuyển.” Ngoài ra, rủi ro khi đầu tư vào TSNH thấp hơn TSDH, khi xảy ra vấn đề gì, doanh nghiệp có thể hủy bỏ các khoản đầu tư ngắn hạn mà không nhận lại quá nhiều tổn thất về kinh tế, và sau khi doanh nghiệp kết thúc 1 chu kỳ kinh doanh (thường là 12 tháng), toàn bộ giá trị của TSNH sẽ bị thu hồi. Tài sản ngắn hạn được phân bổ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định, tránh gây ra việc lãng phí và tổn thất vốn do gián đoạn việc sản xuất, ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản.
Tài sản ngắn hạn thường có khả năng thanh khoản cao, dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ, có thể đáp ứng được khả năng thanh toán của doanh nghiệp mà không chịu chi phí lớn. TSNH bao gồm tiền mặt, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu từ khách hàng, hàng tồn kho, các khoản trả trước cho người bán,… 1. Đặc điểm của tài sản dài hạn Việc đầu tư vào TSDH thể hiện được kế hoạch, chiến lược dài hạn của doanh nghiệp cũng như kỳ vọng sẽ đạt được mức lợi nhuận lớn trong tương lai. Tuy nhiên, đi đôi với mức lợi nhuận cao mà doanh nghiệp kỳ vọng thì đầu tư TSDH sẽ tiềm ẩn những rủi ro tương ứng.
Vì TSDH có những đặc điểm sau: Tài sản dài hạn có tính thanh khoản thấp: Tài sản dài hạn nói chung tương đối khó để chuyển đổi thành tiền mặt. Thời gian luân chuyển dài nên có rủi ro biến động giá trị. Tài sản dài hạn kỳ vọng đem lại lợi nhuận trong dài hạn: Các khoản đầu tư dài hạn hoặc bất động sản đầu tư được doanh nghiệp nắm giữ nhằm mục tiêu lợi ích trong tương lai dài hạn. Thường tốn nhiều vốn đầu tư và chi phí duy trì.
Tài sản dài hạn có giá trị lớn, nên doanh nghiệp phải bỏ ra lượng vốn không nhỏ. Ngoài ra, một số tài sản như nhà xưởng, máy móc, dây chuyền sản xuất còn đòi hỏi chi phí bảo trì. Khó thích nghi với sự thay đổi kinh doanh. Các khoản đầu tư vào tài sản dài hạn lớn và khó thu hồi trong ngắn hạn.
Do đó, khi doanh nghiệp thay đổi hoạt động kinh doanh thì rất khó để nhanh chóng chuyển đổi các tài sản này. Phân loại tài sản trong doanh nghiệp 1. Theo chu trình sản xuất * Tài sản cố định - Tài sản cố định hữu hình: Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất, thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. Đó là những tài sản có 2 Thư viện ĐH Thăng Long hình thái vật chất do Doanh Nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định do Bộ Tài chính quy định.
(Nguồn: Lê Thị Xuân (2013) - Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị của nó và do Doanh Nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê khác phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận Tài sản cố định vô hình do Bộ Tài chính quy định; tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh. Bao gồm các loại sau: Quyền sử dụng đất, chi phí thành lập Doanh Nghiệp, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí lợi thế thương mại. *Tài sản lưu động Là một tài sản trong bảng cân đối trong đó dự kiến sẽ được bán hoặc sử dụng hết trong tương lai gần, thường là trong vòng một năm, hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản điển hình hiện nay bao gồm tiền, các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho, phần của các tài khoản trả trước đó sẽ được sử dụng trong vòng một năm và đầu tư ngắn hạn.
Bao gồm: Tiền mặt ở ngân hàng, tiền trong tay người dân, con nợ, hàng tồn kho… và bất cứ thứ gì được sử dụng trong 12 tháng. Theo hình thái biểu hiện *Tài sản vô hình Là những quyền tài sản thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định và thường chỉ gắn với một chủ thể nhất định, không thể chuyển giao. Tuy nhiên, một số quyền tài sản có thể chuyển giao như thương hiệu hàng hoá hoặc ủy quyền cho chủ thể khác. Tài sản vô hình là những thứ không thể dùng giác quan để thấy được và không thể dùng đại lượng để tính.
Nhưng trong quá trình chuyển giao có thể quy đổi thành tiền. Tùy từng thời điểm nhất định mà quyền tài sản có giá như thế nào. Việc gây thiệt hại về tài sản vô hình của chủ thể sẽ phải bồi thường nhưng rất khó để xác định giá trị của nó. Ngoài những quy định trong luật còn việc xác định giá trị của tài sản vố hình không thể xác định được.
(Nguồn: Lê Thị Xuân (2013) * Tài sản hữu hình Là những cái có thể dùng giác quan để nhận biết được hoặc dùng đơn vị cân đo đong đếm được. Điều kiện để vật trở thành tài sản là vấn đề còn tranh cãi rất nhiều. Bởi vì khi vật không thuộc về ai gọi là vật vô chủ không ai gọi là tài sản vô chủ cả. Khi nói đến tài sản hữu hình bắt buộc chúng ta phải có một số đặc tính riêng như: Thuộc sở hữu của ai đó; Có đặc tính vật lý; Có thể trao đổi đợc; 3 Có thể mang giá trị tinh thần hoặc vật chất; Là những thứ đã tồn tại, đang tồn tại và có thể có trong tương lai.
Theo đặc điểm luân chuyển * Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình hoạt động kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, các khoản phải thu, dự trữ hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác. Căn cứ vào các khoản mục trong bảng cân đối kế toán tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác. Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp tại ngân hàng.
Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế và trả nợ. Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền. Đầu tư tài sản tài chính ngắn hạn: Bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng,.) hoặc chứng khoán mua và bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) nhằm mục đích sinh lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm.
Mục tiêu của doanh nghiệp là việc sử dụng các loại tài sản sao cho hiệu quả nhất.