mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về sử dụng nhân lực trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng sử dụng nhân lực tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc sử dụng nhân lực tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội 10 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. N n lực Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về nhân lực; nhân lực là nguồn lực trong m i con ngƣời, trong đó có cả nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng.
Nguồn lực thể hiện ra ngoài bởi khả năng làm việc bao gồm sức khỏe, trình độ, tâm lý, ý thức, mức độ cố gắng, sức sáng tạo, lòng say mê,…Thực tế đã chứng minh vai trò của con ngƣời trong sản xuất là vô cùng quan trọng, nhân lực là yếu tố trung tâm trong mọi yếu tố khác của sản xuất. Khi không có nhân lực mọi yếu tố khác sẽ không đƣợc vận hành, sử dụng vào trong sản xuất. Thuật ngữ nhân lực đã xuất hiện từ thập niên 80 của thế kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phƣơng thức quản lý, sử dụng con ngƣời trong kinh tế lao động. Theo Liên hợp quốc trong các chỉ số phát triển thế giới (World Development Indicators) (2000): “Nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ với sự phát triển của m i cá nhân và của đất nƣớc.
Theo Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu (2012) trong cuốn Kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân thì “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động” [6, tr12]. 11 Theo Lê Thanh Hà (2012) trong cuốn Quản Trị nhân lực 1, NXB Lao động – Xã hội thì “Nhân lực được hiểu là nguồn lực trong mỗi con người. Nó bao gồm cả thể lực và trí lực.
Nó được biểu hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc. Nó bao gồm cả sức khỏe (chiều cao, cân nặng, độ lớn, sức bền của lực.), trình độ (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm), tâm lý, ý thức, mức độ cố gắng, sức sáng tạo, lòng đam mê.” [11, tr8] Nhƣ vậy xem xét dƣới các góc độ khác nhau về nhân lực, những khái niệm trên đều thống nhất nội dung cơ bản: nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con ngƣời với tƣ cách là yếu tố cấu thành lực lƣợng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ đƣợc xem xét đơn thuần ở góc độ số lƣợng hay chất lƣợng mà là sự tổng hợp của cả số lƣợng và chất lƣợng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con ngƣời với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Trong m i doanh nghiệp, nhân lực là nguồn lực quan trọng, không thể thiếu quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp.
Do đó, nhà quản lý cần phải quan tâm, bồi dƣỡng nhân lực của mình để đảm bảo nhân lực đủ mạnh cả về số lƣợng và chất lƣợng, đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp không chỉ ở hiện tại mà cả tƣơng lai. d n n n lực Có nhiều cách định nghĩa về sử dụng nhân lực song có thể hiểu sử dụng nhân lực nhƣ sau: Theo Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dƣơng (2010) trong cuốn Quản trị nhân lực, Trƣờng ĐH Thƣơng mại: “Sử dụng nhân lực là quá trình khai thác và phát huy tối đa năng lực làm việc của nhân lực nhằm đạt hiệu quả cao trong công việc”. 12 Sử dụng nhân lực tốt là một vũ khí cạnh tranh trong việc nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp. Để các tổ chức có thể sử dụng các nguồn nhân lực nhƣ là một vũ khí chiến lƣợc đòi hỏi ở các nhà quản lý các doanh nghiệp một khả năng tổ chức và có đƣợc tầm nhìn chiến lƣợc.
Theo cách tiếp cận của Lê Thanh Hà (2012) tại cuốn Quản trị nhân lực 1, NXB Lao động – xã hội: “Sử dụng nhân lực là hoạt động dùng người, dùng nguồn lực con người để đạt được các mục tiêu đề ra của tổ chức.” Tổng kết lại, sử dụng nhân lực là quá trình sắp xếp nhân lực vào các vị trí, khai thác và phát huy tối đa năng lực làm việc của nhân lực nhằm đạt hiệu quả cao trong công việc. Sử dụng nhân lực là việc khai thác, phát huy hết tiềm năng của m i cá nhân, nhƣng đồng thời cũng đảm bảo hiệu quả hoạt động của tổ chức. Sử dụng nhân lực tốt là một vũ khí cạnh tranh trong việc nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp. Để các tổ chức có thể sử dụng các nguồn lực nhân lực nhƣ là một vũ khí chiến lƣợc đòi hỏi các nhà lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp có khả năng tổ chức và có tầm nhìn chiến lƣợc.
Mục tiêu sử dụng nhân lực trong doanh nghiệp Mục tiêu của sử dụng nhân lực là phát huy hiệu quả đóng góp của yếu tố con ngƣời trong hiệu quả hoạt động của tổ chức, giúp tổ chức hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Tác giả Cấn Hữu Dạn (2020), Tuyển dụng và sử dụng nhân lực, Trƣờng Đại học Lao động - Xã hội cho rằng: “mục tiêu chung nhất của sử dụng nhân lực là tạo lập sức mạnh thống nhất cho tổ chức, nhóm làm việc, phát huy sở trƣờng làm việc của NLĐ, từ đó thúc đẩy nâng cao hiệu suất làm việc và qua đó hoàn thành mục tiêu. Cụ thể hoá các mục tiêu doanh nghiệp cần đạt đƣợc trong sử dụng nhân lực là: Đảm bảo đúng số lượng và chất lượng: đảm bảo đủ số lƣợng lao động theo yêu cầu của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tránh tình trạng thừa 13 hoặc thiếu nhân lực. Đối với doanh nghiệp, bài toán đảm bảo số lƣợng và chất lƣợng nhân lực là cơ bản nhất.
Đảm bảo đúng người, đúng việc: đảm bảo sử dụng lao động đúng với năng lực, sở trƣờng và nguyện vọng của ngƣời lao động. Ngƣời lao động đƣợc bố trí sai sở trƣờng của họ thì sẽ ảnh hƣởng đến năng suất lao động. Hơn nữa, trong xã hội hiện đại nguyện vọng của ngƣời lao động cũng cần đƣợc chú ý nhằm tạo ra động lực cho họ trong quá trình lao động. Đảm bảo đúng nơi, đúng chỗ: đúng theo yêu cầu của quá trình kinh doanh, đúng theo nhu cầu của bộ phận sử dụng lao động.
Trong các doanh nghiệp quy mô lớn thì vấn đề lao động đƣợc sử dụng không đúng nơi thƣờng xuyên xảy ra hơn, tức là các bộ phận trong doanh nghiệp bị ép sử dụng lao động từ trên xuống; Đảm bảo đúng thời hạn, đảm bảo tính mềm dẻo và linh hoạt trong sử dụng nhân lực: có nghĩa là phải đảm bảo tính mềm dẻo và linh hoạt trong sử dụng lao động. Việc sử dụng lao động phải đảm bảo tránh các đột biến về nhân lực trong quá trình kinh doanh do các yếu tố hƣu trí, bỏ việc… Hoặc trong nhiều trƣờng hợp cần đa dạng hoá các loại hình hợp đồng nhằm tiết kiệm chi phí nhân công đối với các doanh nghiệp mà hoạt động mang tính thời vụ. Nội dung sử dụng nhân lực trong doanh nghiệp Tuyển dụng đúng ngƣời đã khó, sử dụng nhân lực một cách hiệu quả còn khó hơn. Để sử dụng nhân lực hiệu quả, tổ chức cần căn cứ vào chiến lƣợc kinh doanh, quy mô tổ chức, thị trƣờng lao động và thực trạng nguồn nhân lực hiện có của doanh nghiệp.
Nội dung của sử dụng nhân lực thƣờng đƣợc chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn tiếp nhận và bố trí nhân lực, Giai đoạn biên chế nội bộ và giai đoạn hoàn tất sử dụng nhân lực. Tiếp n ận và bố trí n n lực - Tiếp nhận nhân lực * Tiếp đón nhân viên Tiếp đón là hoạt động diễn ra trong lần đầu tiên của tổ chức đối với nhân viên mới nhằm tạo ấn tƣợng tốt đẹp và hứng khởi cho nhân viên khi bắt đầu làm việc trong tổ chức. Tác giả Cấn Hữu Dạn (2020), cho rằng “Tiếp nhận nhân lực là hoạt động đón tiếp nhân viên và giúp nhân viên làm quen với nơi làm việc mới”. Khi bắt đầu một công việc mới ở một tổ chức mới, một môi trƣờng mới với những đồng nghiệp mới thì tâm lý lo âu, căng thẳng sẽ không thể tránh khỏi đối với m i nhân viên mới.
Chính vì vậy, việc tiếp đón nhân viên một cách chu đáo, tận tình là hoạt động rất cần thiết ở m i tổ chức. Điều này sẽ tạo cho nhân viên mới sự hào hứng, hòa đồng ngay khi bắt đầu làm việc cho tổ chức, cảm thấy mình là một thành viên rất quan trọng của tổ chức, tự hào về tổ chức, giúp nhân viên thấy rõ trách nhiệm của mình đối với tổ chức. Mọi doanh nghiệp đều mong muốn ngƣời mới nhanh chóng hòa nhập vào môi trƣờng làm việc. Đón nhân viên mới là một chuyện nhỏ nhƣng lại có ý nghĩa rất lớn.
Ấn tƣợng tốt đẹp trong ngày đầu tiên làm việc sẽ là một trong những yếu tố giữ chân ngƣời tài ở lại với công ty dù áp lực công việc đôi khi làm họ nản chí. Và việc chuẩn bị đón nhân viên một cách chu đáo sẽ là động lực tốt thôi thúc họ cố gắng hết mình để bắt nhịp với tính chuyên nghiệp của một môi trƣờng mới, tăng năng suất lao động từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của doanh nghiệp. Ngƣợc lại, nếu việc tiếp nhận nhân lực ban đầu không đƣợc thực hiện tốt, ngƣời lao động có sẽ có ấn xấu về doanh nghiệp và có xu hƣớng nghỉ việc tìm kiếm môi trƣờng làm việc khác trong tƣơng lai hay họ có thể thờ ơ làm việc không hết mình, không hào hứng. Việc thôi việc của nhân viên xảy ra sẽ gây ra tổn thất khó khăn cho doanh nghiệp.
15 * Định hƣớng nhân viên mới Tác giả Cấn Hữu Dạn (2020) cho rằng: “Định hướng nhân viên là việc thiết kế và tổ chức thực hiện chương trình nhằm giúp nhân viên mới làm quen với tổ chức và bắt đầu công việc với hiệu suất cao”.