Tổng quan luận án

Cây ngô (Zea mays L.) là cây ngũ cốc quan trọng trên thế giới, đứng thứ ba sau lúa mỳ và lúa gạo về diện tích, đứng thứ hai về sản lượng và đứng đầu về năng suất nhờ việc ứng dụng ưu thế lai kết hợp đầu tư thâm canh. Tại Việt Nam, ngô là cây lương thực có vị trí thứ hai sau lúa, giữ vai trò cây trồng hàng hóa chiến lược tại các vùng sinh thái, cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến thức ăn chăn nuôi và nhiên liệu sinh học. Năm 2015, diện tích ngô cả nước đạt 1.179,3 nghìn ha, năng suất đạt 44,8 tạ/ha, sản lượng đạt 5.281,0 nghìn tấn. Tuy nhiên, sản lượng trong nước chỉ đáp ứng khoảng 50% nhu cầu sản xuất thức ăn chăn nuôi; năm 2015, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 7,6 triệu tấn ngô hạt với giá trị 1,6 tỷ USD (tăng 58,5% về khối lượng và 34,7% về giá trị so với năm 2014 theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).

Tỉnh Sơn La có diện tích đất tự nhiên là 1.405.500 ha, diện tích đất nông nghiệp là 190.070 ha (chiếm 13,52%), diện tích trồng ngô năm 2014 đạt 162.961 ha và năm 2015 đạt 159.900 ha. Sơn La có diện tích trồng ngô lớn thứ hai tại Việt Nam, tuy nhiên năng suất bình quân năm 2015 chỉ đạt 36,8 tạ/ha, thấp hơn mức bình quân chung của cả nước (44,8 tạ/ha). Nguyên nhân xuất phát từ các hạn chế kỹ thuật và tập quán canh tác:

  • Khoảng 85% diện tích ngô trồng trên đất dốc nương rẫy (> 15°), lượng đất mất do xói mòn khi độc canh ngô ước tính 23,1 tấn/ha/vụ (tương đương khoảng 3,7 triệu tấn đất mặt bị xói mòn mỗi năm trên toàn tỉnh).
  • Người dân vùng Tây Bắc gieo hạt theo kinh nghiệm khi hoa ban tàn kết hợp có mưa, nếu gặp hạn đầu vụ hoặc mưa lớn cuối vụ sẽ gây chết cây hoặc đổ gãy.
  • Tỷ lệ sử dụng giống địa phương và giống thụ phấn tự do còn cao; việc lựa chọn giống lai chưa đồng đều giữa các tiểu vùng sinh thái.
  • Mức bón phân thấp và mất cân đối: trung bình toàn tỉnh chỉ bón 4,0 tấn phân chuồng/ha, 42 kg N/ha, 38,7 kg P2O5/ha, 19 kg K2O/ha.
  • Mật độ gieo trồng thưa, không đúng khoảng cách kỹ thuật; tập quán đốt nương làm rẫy làm mất thảm thực vật che phủ bề mặt.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Nghiên cứu tính thích nghi, tính ổn định của các giống ngô lai tại các vùng sinh thái ở Sơn La.
  2. Nghiên cứu được một số biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất ngô ở Sơn La: thời vụ trồng, kỹ thuật bón phân (loại phân bón, lượng phân bón), mật độ, khoảng cách trồng và kỹ thuật che phủ để phục vụ sản xuất ngô tại vùng nghiên cứu cũng như tỉnh Sơn La.
  3. Xây dựng mô hình trình diễn tại 3 huyện áp dụng tổng hợp quy trình kỹ thuật canh tác rút ra từ kết quả nghiên cứu của đề tài.
  4. Xác định mức độ đóng góp của các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất ngô tại Sơn La.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Các giống ngô lai (NK67, NK66, VN8960, LVN10, LVN14, LVN61...) và các biện pháp kỹ thuật canh tác (thời vụ gieo, loại phân bón, liều lượng phân hỗn hợp NPK, mật độ và khoảng cách gieo, kỹ thuật che phủ đất bằng thân lá ngô khô).
  • Phạm vi không gian: 3 huyện đại diện cho 3 tiểu vùng sinh thái của tỉnh Sơn La: huyện Mộc Châu (xã Đông Sang - tiểu vùng Cao nguyên), huyện Mai Sơn (xã Cò Nòi - tiểu vùng trục Quốc lộ 6), huyện Thuận Châu (xã Chiềng Ly - tiểu vùng lòng hồ sông Đà).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập chuỗi số liệu khí hậu trung bình giai đoạn 2009 - 2013, số liệu thống kê sản xuất giai đoạn 2008 - 2015, tiến hành các thí nghiệm đồng ruộng trong các vụ Xuân Hè giai đoạn 2009 - 2011 và tổng hợp hoàn thành năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước theo các hướng tiếp cận chính:

  • Chọn tạo giống ngô lai và ưu thế lai: Lịch sử nghiên cứu ưu thế lai ghi nhận George Harrison Shull (1908, 1909) với các quan sát về dòng thuần tự thụ (true breeding strains), tạo giống lai đơn và đề xuất thuật ngữ "Heterosis" năm 1914; Edward Murray East ứng dụng ưu thế lai; Jones (1917) đưa ra phương pháp lai kép (double cross). Tại Việt Nam, nghiên cứu ngô lai triển khai từ những năm 1970 và phát triển mạnh từ thập niên 1990 với các giống lai quy ước LVN4, LVN12, LVN17, LVN23, LVN24, LVN25. Giai đoạn từ 2003 đến nay, thông qua dự án AMNET hợp tác với CIMMYT, các giống VN8960, LCH9, LVN14, LVN99, LVN61, LVN66, LVN154 được đưa vào sản xuất; Phan Xuân Hào (2005) sử dụng chỉ thị phân tử SSR phân tích đa dạng di truyền tập đoàn dòng ngô. Tháng 3/2015, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận các giống ngô chuyển gen của Syngenta theo Quyết định số 69/QĐ-CT-CLT.
  • Sinh thái học và tương tác kiểu gen với môi trường: CIMMYT (2005) chia sinh thái cây ngô thế giới thành 4 vùng (Ôn đới, Cận nhiệt đới, Nhiệt đới cao, Nhiệt đới thấp). Ngô Hữu Tình (1997, 2003) phân tích cây ngô thuộc nhóm quang hợp C4 (chu trình Hatch - Slack), xác lập 8 vùng trồng ngô chính tại Việt Nam (trong đó vùng Tây Bắc ở độ cao 600 - 1.000 m, vụ chính Hè Thu gieo tháng 4 - 5); đồng thời hệ thống hóa các loài sâu hại (sâu xanh Heliothis armigera, sâu đục thân Ostrinia furnacalis, rệp muội Rhopalosiphum maidis) và bệnh hại chính (khô vằn Rhizoctonia solani, đốm lá lớn Helminthosporium turcicum, đốm lá nhỏ Helminthosporium maydis, bạch tạng Sclerospora maydis, gỉ sắt Puccinia maydis).
  • Nghiên cứu thời vụ gieo trồng: Dahmardeh và cộng sự (2010) tại Iran; Neild và cộng sự (2007) tại Wisconsin (Hoa Kỳ); Akba và cộng sự (2008); Hans Kgasago (2006) tại Nam Phi. Tại Việt Nam: Đỗ Tuấn Khiêm (1996) tại Thái Nguyên; Nguyễn Đức Lương và cộng sự (1999); Dương Thị Nguyên (2011); Vũ Thị Vui và Trần Trung Kiên (2014) trên giống HN88; Đặng Văn Minh và cộng sự (2015) trên giống H88 tại Quảng Ninh.
  • Nghiên cứu phân bón và dinh dưỡng khoáng: Rafael F. và cộng sự (2013); Bierman và cộng sự (2012) khảo sát 1.496 hộ tại Minnesota; Jiyun (2012) tại Trung Quốc xác định tỷ lệ thất thoát đạm qua phản nitrat hóa (34%), bay hơi NH3 (11,5%), xói mòn (5%), thấm sâu (2%); Abbasi KM và cộng sự (2013); Savci (2012); Xu và cộng sự; Shahid và cộng sự; Sharifi và Namvar (2016); Berger (1994); Viện Lân - Kali Atlanta Hoa Kỳ (1996) xác định nhu cầu dinh dưỡng để tạo 10 tấn hạt/ha cần 111 kg P2O5, 45 kg CaO, 269 kg K2O, 56 kg MgO; Bùi Huy Hiền (2002); Trần Trung Kiên và Phan Xuân Hào (2007); Bùi Văn Quang và cộng sự (2015); Trần Đức Thiện và cộng sự (2014); Trần Trung Kiên và Bùi Văn Quang (2011); Trần Trung Kiên (2009); Nguyễn Văn Bộ (2007); Nguyễn Xuân Trường (2000); Cục Trồng trọt (2006); Cao Kỳ Sơn (2013); Lê Thị Kiều Oanh và cộng sự (2014); Trần Quốc Vương và cộng sự (2014); Ngô Ngọc Hưng và cộng sự (2014); Đinh Văn Phóng và cộng sự (2013, 2015); Trần Minh Tiến (2015); Phạm Quang Hà và Nguyễn Văn Bộ (2013).
  • Nghiên cứu xói mòn và che phủ đất dốc: Hà Đình Tuấn và cộng sự (2005); các dự án của CIRAD và dự án Phát triển nông thôn Sơn La - Lai Châu (Cộng đồng châu Âu tài trợ).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Mặc dù các yếu tố kỹ thuật đã được nghiên cứu ở nhiều vùng đồng bằng và trung du, nhưng tại tỉnh Sơn La - nơi có địa hình dốc phân hóa thành nhiều tiểu vùng sinh thái đặc thù - chưa có nghiên cứu hệ thống đánh giá tính thích nghi và ổn định của các giống ngô lai thương phẩm, thiếu gói kỹ thuật canh tác đồng bộ (thời vụ chuẩn hóa, dạng phân hỗn hợp NPK phù hợp, liều lượng bón, mật độ và kỹ thuật che phủ đất bằng tàn dư cây trồng) gắn với bảo vệ đất dốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các cơ sở lý thuyết và khái niệm chuyên ngành:

  • Lý thuyết ưu thế lai (Heterosis) và tương tác kiểu gen $\times$ môi trường ($G \times E$): Đánh giá sự phản ứng của các kiểu gen ngô lai đối với các điều kiện sinh thái khác nhau nhằm xác định tính thích nghi và tính ổn định về năng suất.
  • Lý thuyết sinh lý thực vật và chu trình quang hợp C4 (Hatch - Slack): Khả năng tận dụng bức xạ mặt trời, tổng tích nhiệt hoạt động (GDD - Growing Degree Days) và nhu cầu nước trong các giai đoạn sinh trưởng.
  • Nguyên lý cân đối dinh dưỡng khoáng: Định lượng nhu cầu cây ngô lấy đi từ đất để tạo 1 tấn hạt (22,3 kg N; 8,2 kg P2O5; 12,2 kg K2O); quy luật hút khoáng đa lượng ($N, P, K$), trung lượng ($S, Ca, Mg$) và vi lượng ($TE$).
  • Nguyên lý nông học bảo vệ đất dốc: Sử dụng tàn dư thực vật làm lớp phủ bề mặt nhằm giảm thiểu tác động cơ học của hạt mưa, hạn chế dòng chảy tràn và chống xói mòn tầng đất mặt.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng: Bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD) với 3 lần nhắc lại. Các thí nghiệm bao gồm: so sánh giống ngô lai; thí nghiệm thời vụ gieo trồng; thí nghiệm so sánh các dạng phân bón; thí nghiệm xác định liều lượng phân hỗn hợp NPK; thí nghiệm mật độ và khoảng cách gieo; thí nghiệm vật liệu và kỹ thuật che phủ đất.
  • Phương pháp điều tra khảo sát: Phỏng vấn trực tiếp nông hộ tại 3 huyện (Mộc Châu, Mai Sơn, Thuận Châu) về hiện trạng sử dụng giống, thời vụ, phân bón và kỹ thuật canh tác.
  • Chỉ tiêu theo dõi:
    • Thời gian sinh trưởng (TGST): số ngày qua các giai đoạn mọc mầm, 3-4 lá, 8-9 lá, trỗ cờ, tung phấn, phun râu, chín sinh lý, thu hoạch.
    • Đặc điểm hình thái: Chiều cao cây (CCC), chiều cao đóng bắp (CCĐB), số lá, chỉ số diện tích lá (LAI).
    • Khả năng chống chịu: Đánh giá sâu đục thân, sâu xanh, rệp muội; bệnh khô vằn, đốm lá lớn, đốm lá nhỏ, bạch tạng, gỉ sắt; tỷ lệ đổ rễ, đổ thân và khả năng chịu hạn.
    • Yếu tố cấu thành năng suất: Chiều dài bắp, đường kính bắp, số hàng hạt/bắp, số hạt/hàng, khối lượng 1000 hạt (KL1000), tỷ lệ hạt/bắp.
    • Năng suất: Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu (tạ/ha).
  • Nguồn tư liệu và xử lý số liệu:
    • Dữ liệu khí tượng thủy văn trạm Tây Bắc giai đoạn 2009 - 2013; số liệu thống kê của FAO, USDA, Tổng cục Thống kê, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sơn La.
    • Phân tích thống kê sinh học bằng phần mềm chuyên ngành: phân tích phương sai (ANOVA), so sánh giá trị trung bình qua sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ($LSD_{0,05}$), hệ số biến động ($CV%$), chỉ số thích nghi và ổn định giống, hạch toán hiệu quả kinh tế nông nghiệp (tổng thu, chi phí, lãi thuần, tỷ suất lợi nhuận).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 tổng thuật bức tranh toàn diện về sản xuất ngô trên thế giới, Việt Nam và tỉnh Sơn La; phân tích các nhân tố sinh học, phi sinh học và cơ sở kỹ thuật canh tác.

Năm Diện tích thế giới (triệu ha) Năng suất thế giới (tạ/ha) Sản lượng thế giới (triệu tấn) Diện tích VN (nghìn ha) Năng suất VN (tạ/ha) Sản lượng VN (nghìn tấn)
2011 172,26 51,5 887,85 1.121,3 43,1 4.835,6
2012 178,55 48,9 872,80 1.156,6 43,0 4.973,6
2013 184,19 55,2 1.016,74 1.170,8 44,4 5.193,5
2014 183,32 55,7 1.021,62 1.177,7 44,1 5.191,2
2015 179,82 56,5 1.015,57 1.179,3 44,8 5.281,0
2016 177,61 54,1 960,73 1.300,0 46,0 5.980,0

Diễn biến khí hậu trung bình 5 năm (2009 - 2013) tại Sơn La cho thấy: nhiệt độ trung bình năm là 21,9°C (tháng 5 cao nhất 28,3°C, tháng 1 thấp nhất 14,6°C); tổng lượng mưa trung bình năm đạt 1.575,6 mm nhưng phân bố không đều (mùa mưa tập trung từ tháng 6 đến tháng 8 chiếm 80% lượng mưa cả năm, tháng 7 cao nhất đạt 437,8 mm; tháng 2 và 3 khô hạn gay gắt); độ ẩm không khí trung bình là 78%; tổng số giờ nắng trung bình năm là 1.936 giờ.

Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Diện tích (ha) 132.690 137.524 143.080 150.316 157.060 159.200 162.961 159.900
Năng suất (tạ/ha) 38,18 38,82 39,26 39,80 38,40 37,20 37,40 36,80
Sản lượng (tấn) 506.671 533.868 561.732 598.257 603.110 592.224 609.474 588.432

Năm 2015, diện tích và năng suất ngô phân bố tại các huyện trọng điểm của Sơn La gồm: huyện Mộc Châu đạt 23.182 ha với năng suất 42,61 tạ/ha; huyện Mai Sơn đạt 23.961 ha với năng suất 43,18 tạ/ha; huyện Thuận Châu đạt 15.920 ha với năng suất 39,33 tạ/ha (năng suất trung bình toàn tỉnh đạt 40,61 tạ/ha).

Tỷ lệ hút chất dinh dưỡng qua các giai đoạn sinh trưởng của cây ngô (TGST 125 ngày):

  • Đạm (N): 25 ngày đầu hút 8%; từ 25 - 50 ngày hút 35%; từ 50 - 70 ngày hút 31%; từ 75 - 100 ngày hút 20%; từ 100 - 125 ngày hút 6%.
  • Lân (P2O5): 25 ngày đầu hút 4%; từ 25 - 50 ngày hút 27%; từ 50 - 70 ngày hút 36%; từ 75 - 100 ngày hút 25%; từ 100 - 125 ngày hút 8%.
  • Kali (K2O): 25 ngày đầu hút 9%; từ 25 - 50 ngày hút 44%; từ 50 - 70 ngày hút 31%; từ 75 - 100 ngày hút 14%; từ 100 - 125 ngày hút 2%.

Khảo sát hiện trạng sử dụng phân bón năm 2009 tại 3 huyện cho thấy:

Huyện điều tra Phân chuồng (tấn/ha) Đạm N nguyên chất (kg/ha) Lân P2O5 nguyên chất (kg/ha) Kali K2O nguyên chất (kg/ha)
Mai Sơn 5,1 (0 - 8,8) 55 (0 - 130) 50 (0 - 87) 22 (0 - 68)
Mộc Châu 3,9 (0,3 - 5,5) 33 (0 - 98) 28 (0 - 36) 14 (0 - 33)
Thuận Châu 3,1 (0,7 - 3,6) 38 (0 - 112) 38 (0 - 83) 21 (0 - 63)
Trung bình 3 huyện 4,0 (0 - 8,8) 42 (0 - 130) 38,7 (0 - 87) 19 (0 - 68)

Chương 2: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết về vật liệu thí nghiệm, thiết kế nội dung nghiên cứu và các phương pháp đo đếm, xử lý số liệu:

  • Vật liệu: Tập đoàn giống ngô lai tham gia nghiên cứu gồm các giống đối chứng và giống thử nghiệm (NK67, NK66, VN8960, LVN10, LVN14, LVN61...). Phân bón gồm phân chuồng, phân đơn (Urê, Supe lân, Kali Clorua), phân hỗn hợp NPK chuyên dùng (NPK 16-16-8+13S+TE). Vật liệu che phủ gồm thân lá ngô khô tàn dư từ vụ trước.
  • Nội dung nghiên cứu:
    1. Đánh giá tính thích nghi và tính ổn định của các giống ngô lai tại 3 tiểu vùng sinh thái (Mộc Châu, Mai Sơn, Thuận Châu).
    2. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng (bố trí các thời kỳ gieo từ đầu tháng 4 đến đầu tháng 5).
    3. Nghiên cứu ảnh hưởng của các dạng phân bón (phân đơn, NPK thông thường, NPK chuyên dùng có bổ sung lưu huỳnh và vi lượng).
    4. Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân hỗn hợp NPK 16-16-8+13S+TE đến sinh trưởng và năng suất.
    5. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và khoảng cách gieo trồng (từ 5,7 vạn cây/ha đến 7,1 vạn cây/ha tương ứng các khoảng cách hàng $\times$ cây khác nhau).
    6. Nghiên cứu biện pháp che phủ bề mặt đất bằng thân lá ngô khô (các mức khối lượng che phủ khác nhau).
    7. Xây dựng mô hình trình diễn thâm canh tổng hợp và phân tích cơ cấu đóng góp của các biện pháp kỹ thuật đến năng suất ngô theo nhóm nông dân.
  • Phương pháp nghiên cứu đồng ruộng và xử lý số liệu: Thí nghiệm bố trí khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD), 3 lần nhắc lại; theo dõi định kỳ các chỉ tiêu hình thái, sinh trưởng, sâu bệnh hại, cấu thành năng suất và năng suất thực thu; xử lý thống kê bằng phương pháp phân tích phương sai ANOVA, xác định sai khác $LSD_{0,05}$, hệ số biến động $CV%$ và chỉ số ổn định kiểu gen.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm đạt được:

  • Tuyển chọn giống ngô lai thích nghi: Qua khảo nghiệm tại cả 3 huyện Mộc Châu, Mai Sơn và Thuận Châu trong 2 năm (2009 - 2010), các giống NK67, VN8960 và NK66 thể hiện khả năng sinh trưởng tốt, khả năng chống chịu sâu đục thân, rệp muội, bệnh khô vằn và chống đổ tốt hơn đối chứng. Trong đó, giống NK67 có chỉ số thích nghi và tính ổn định cao nhất, năng suất bình quân vượt trội ở cả 3 tiểu vùng sinh thái, là lựa chọn ưu tiên hàng đầu.
  • Xác định thời vụ gieo trồng thích hợp: Thí nghiệm thời vụ trong các năm 2010 và 2011 xác định khung thời vụ gieo trồng từ ngày 15/4 đến ngày 22/4 là tối ưu cho giống NK67 tại Sơn La. Gieo trong khoảng thời gian này giúp cây ngô tận dụng được độ ẩm của các cơn mưa đầu mùa, tránh hạn đầu vụ, đồng thời giai đoạn trỗ cờ - phun râu và chín không bị trùng vào thời điểm mưa lũ lớn cuối vụ gây đổ gãy.
  • Xác định loại phân bón: Sử dụng phân hỗn hợp NPK 16-16-8+13S+TE cho kết quả vượt trội so với bón phân đơn và các loại NPK thông thường khác. Sự hiện diện của lưu huỳnh (13S) và các nguyên tố vi lượng (TE) giúp cây ngô phát triển bộ rễ vững chắc, tăng chỉ số diện tích lá, tăng chiều dài bắp và khối lượng 1000 hạt.
  • Xác định liều lượng phân bón: Mức bón 420 kg/ha phân hỗn hợp NPK 16-16-8+13S+TE mang lại năng suất thực thu và hiệu quả kinh tế cao nhất tại cả 3 địa điểm thí nghiệm; các mức bón cao hơn không làm tăng năng suất có ý nghĩa thống kê nhưng làm tăng chi phí đầu tư.
  • Xác định mật độ và khoảng cách gieo trồng: Mật độ 6,6 vạn cây/ha với khoảng cách hàng $\times$ cây là 50 cm $\times$ 30 cm cho năng suất cao nhất và ổn định nhất ở giống NK67, đảm bảo độ thông thoáng, giảm tỷ lệ đổ ngã và tối ưu hóa chỉ số diện tích lá.
  • Kỹ thuật che phủ đất: Che phủ bề mặt bằng thân lá ngô khô tàn dư vụ trước với lượng 10 tấn/ha giúp giữ ẩm đất nương, giảm thiểu rửa trôi dinh dưỡng và xói mòn đất dốc, cải thiện khả năng sinh trưởng của cây ngô và tăng năng suất thực thu rõ rệt so với đối chứng không che phủ.
  • Xây dựng mô hình trình diễn và phân tích đóng góp kỹ thuật: Đã xây dựng thành công mô hình thâm canh tổng hợp tại 3 huyện (Mộc Châu, Mai Sơn, Thuận Châu) áp dụng đồng bộ: giống NK67, gieo 15 - 22/4, mật độ 6,6 vạn cây/ha (50 cm $\times$ 30 cm), bón 420 kg/ha NPK 16-16-8+13S+TE và che phủ 10 tấn thân lá ngô khô/ha. Mô hình cho năng suất cao vượt trội so với tập quán sản xuất đại trà của nông dân. Phân tích cơ cấu đóng góp xác định rõ tỷ lệ tác động của từng yếu tố (giống, phân bón, thời vụ, mật độ, che phủ) đến gia tăng năng suất ngô theo từng nhóm nông hộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:

  • Luận án đã xác định cơ sở khoa học về tương tác kiểu gen $\times$ môi trường ($G \times E$) đối với các giống ngô lai thương phẩm tại 3 tiểu vùng sinh thái đặc thù của miền núi Tây Bắc (tiểu vùng cao nguyên, tiểu vùng trục quốc lộ và tiểu vùng lòng hồ).
  • Đánh giá và lượng hóa được vai trò, cơ cấu đóng góp của từng biện pháp kỹ thuật canh tác (giống, thời vụ, phân bón, mật độ, che phủ) vào kết cấu năng suất ngô hạt tại tỉnh Sơn La.
  • Bổ sung cơ sở dữ liệu khoa học về kỹ thuật thâm canh ngô bền vững trên đất dốc cho các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp kỹ thuật:

  • Lựa chọn được 3 giống ngô lai gồm NK67, NK66 và VN8960 có khả năng chống chịu tốt, năng suất cao và ổn định; trong đó khẳng định giống NK67 là lựa chọn số 1 cho các tiểu vùng sinh thái tỉnh Sơn La.
  • Xây dựng hoàn chỉnh gói quy trình kỹ thuật canh tác thâm canh đối với giống ngô lai NK67 tại Sơn La:
    • Thời vụ gieo hạt: Từ ngày 15/4 đến ngày 22/4.
    • Mật độ và khoảng cách trồng: Mật độ 6,6 vạn cây/ha, khoảng cách 50 cm $\times$ 30 cm.
    • Chế độ phân bón: Sử dụng phân hỗn hợp NPK 16-16-8+13S+TE với liều lượng 420 kg/ha.
    • Kỹ thuật che phủ đất: Che phủ bề mặt đất bằng thân lá ngô đã khô từ vụ trước với khối lượng 10 tấn/ha.
  • Đề xuất giải pháp kỹ thuật canh tác đơn giản, chi phí thấp, tận dụng tối đa phế phụ phẩm nông nghiệp sẵn có tại chỗ, phù hợp với trình độ canh tác và điều kiện kinh tế của nông dân miền núi, góp phần xóa đói giảm nghèo và bảo vệ tài nguyên đất dốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi thí nghiệm đồng ruộng tập trung chủ yếu tại 3 huyện đại diện (Mộc Châu, Mai Sơn, Thuận Châu) của tỉnh Sơn La; chưa mở rộng đánh giá chi tiết trên các tiểu vùng có độ cao trên 1.200 m hoặc các chân đất dốc đặc biệt hiểm trở (> 25°).
  • Nghiên cứu tập trung giải quyết các biện pháp kỹ thuật canh tác chính (giống, thời vụ, phân bón, mật độ, che phủ tàn dư) trên giống chủ lực NK67, chưa đánh giá sâu tác động cơ giới hóa gieo hạt và thu hoạch trên đất dốc.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục khảo nghiệm và đánh giá tính thích ứng của các tổ hợp ngô lai thế hệ mới, bao gồm các giống ngô biến đổi gen kháng sâu đục thân và chịu thuốc trừ cỏ trong điều kiện canh tác đất dốc tại Sơn La.
  • Nghiên cứu cơ chế tích lũy hữu cơ, diễn biến độ phì và hoạt tính vi sinh vật đất trong điều kiện duy trì lớp che phủ thân lá ngô liên tục nhiều năm.
  • Hoàn thiện các công cụ và thiết bị cơ giới hóa nhỏ phục vụ gieo hạt, bón phân và thu gom tàn dư ngô phù hợp với địa hình nương rẫy vùng Tây Bắc.

Giá trị tham khảo

Giá trị đối với các đối tượng sử dụng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và sinh viên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Thổ nhưỡng - Nông hóa: Nguồn tài liệu tham khảo về phương pháp luận đánh giá tương tác $G \times E$, phương pháp thiết kế thí nghiệm đồng ruộng đối với cây ngô và kỹ thuật canh tác đất dốc.
  • Cán bộ quản lý nông nghiệp, khuyến nông tỉnh Sơn La và các tỉnh miền núi phía Bắc: Cung cấp cơ sở khoa học để ban hành lịch thời vụ, cơ cấu bộ giống khuyến nông và quy trình kỹ thuật canh tác ngô thâm canh bảo vệ đất.
  • Doanh nghiệp sản xuất giống cây trồng và phân bón: Dữ liệu thực tế về khả năng thích ứng của giống ngô lai và hiệu lực của phân bón chuyên dùng bổ sung lưu huỳnh, vi lượng tại địa bàn Tây Bắc.

Các phần có giá trị tham khảo cao:

  • Dữ liệu khảo sát hiện trạng sử dụng phân bón và tập quán canh tác của nông dân tại 3 huyện Mộc Châu, Mai Sơn, Thuận Châu.
  • Quy trình kỹ thuật canh tác tổng hợp đối với giống ngô NK67 (thời vụ 15 - 22/4, mật độ 6,6 vạn cây/ha, NPK 16-16-8+13S+TE mức 420 kg/ha, che phủ 10 tấn thân lá khô/ha).
  • Phương pháp phân tích cơ cấu đóng góp của các biện pháp kỹ thuật vào năng suất ngô hạt.

Câu hỏi thường gặp

1. Giống ngô lai nào được luận án xác định có năng suất và độ ổn định cao nhất tại Sơn La?
Luận án đã khảo nghiệm và chọn lọc được 3 giống ngô gồm NK67, VN8960 và NK66 có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất vượt đối chứng; trong đó giống NK67 được kết luận là lựa chọn số 1 nhờ năng suất cao vượt trội và tính ổn định qua các vụ thí nghiệm tại cả 3 tiểu vùng sinh thái (Mộc Châu, Mai Sơn, Thuận Châu).

2. Gói quy trình kỹ thuật chuẩn hóa cho giống ngô NK67 tại Sơn La gồm những thông số cụ thể nào?
Quy trình kỹ thuật gồm 4 thông số chính:

  • Thời vụ gieo hạt: Từ ngày 15/4 đến ngày 22/4.
  • Mật độ và khoảng cách gieo: 6,6 vạn cây/ha (khoảng cách 50 cm $\times$ 30 cm).
  • Chế độ phân bón: Sử dụng phân hỗn hợp NPK 16-16-8+13S+TE với liều lượng 420 kg/ha.
  • Kỹ thuật che phủ đất: Che phủ bề mặt bằng 10 tấn thân lá ngô khô/ha từ vụ trước.

3. Thực trạng sử dụng phân bón của nông dân tại 3 huyện điều tra ở Sơn La trước nghiên cứu như thế nào?
Theo kết quả điều tra năm 2009 của tác giả tại Mai Sơn, Mộc Châu và Thuận Châu, lượng phân bón bình quân nông dân sử dụng rất thấp và mất cân đối: phân chuồng trung bình đạt 4,0 tấn/ha; đạm nguyên chất đạt 42 kg N/ha; lân nguyên chất đạt 38,7 kg P2O5/ha; kali nguyên chất chỉ đạt 19 kg K2O/ha.

4. Ba tiểu vùng sinh thái của tỉnh Sơn La tham gia thí nghiệm có đặc điểm gì?
Ba địa bàn thí nghiệm đại diện cho 3 tiểu vùng sinh thái của tỉnh:

  • Xã Đông Sang, huyện Mộc Châu: Đại diện cho tiểu vùng Cao nguyên, độ cao trung bình 1.050 m so với mực nước biển, khí hậu cận ôn đới với nhiệt độ trung bình năm 18°C.
  • Xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn: Đại diện cho tiểu vùng trục Quốc lộ 6.
  • Xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu: Đại diện cho tiểu vùng lòng hồ sông Đà.

5. Vì sao biện pháp che phủ bề mặt bằng thân lá ngô khô 10 tấn/ha được luận án đề xuất áp dụng?
Canh tác ngô trên đất dốc Sơn La chịu áp lực xói mòn nghiêm trọng (mất 23,1 tấn đất/ha/vụ khi độc canh). Việc che phủ bề mặt đất bằng 10 tấn thân lá ngô khô tàn dư từ vụ trước giúp giữ ẩm cho đất trong giai đoạn khô hạn đầu vụ, hạn chế dòng chảy tràn cuốn trôi chất dinh dưỡng, giảm xói mòn đất dốc và cải thiện năng suất ngô thực thu.

Kết luận

Luận án tiến sĩ nông nghiệp của tác giả Nguyễn Đức Thuận đã giải quyết trọn vẹn yêu cầu thực tiễn về nâng cao năng suất ngô và bảo vệ đất dốc tại tỉnh Sơn La. Công trình đã xác lập cơ sở khoa học về tính thích nghi và ổn định của các giống ngô lai, lựa chọn giống NK67 làm giống chủ lực cho địa phương. Luận án đã xây dựng thành công gói quy trình kỹ thuật canh tác tổng hợp (thời vụ 15 - 22/4, mật độ 6,6 vạn cây/ha, phân NPK 16-16-8+13S+TE liều lượng 420 kg/ha và che phủ 10 tấn thân lá ngô khô/ha), đồng thời triển khai mô hình trình diễn hiệu quả tại 3 tiểu vùng sinh thái trọng điểm của tỉnh. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học và thực tiễn đối với công tác phát triển ngô bền vững tại vùng Tây Bắc.