CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH 1. Khái niệm về doanh nghiệp. Khái niệm về doanh nghiệp. Trong nền kinh tế, mô hình tổ chức cơ bản để hoạt động sản xuất, kinh doanh tiến hành thuận lợi là doanh nghiệp.
Con người có thể độc lập tổ chức, sản xuất kinh doanh dưới nhiều hình thức khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp. Một cá thể có thể sản xuất kinh doanh, một tổ chức sản xuất với số lượng ít người cũng có thể sản xuất tốt. Tuy nhiên cùng với quá trình phân công lao động trong xã hội, cùng với việc xã hội hoá cao và trình độ tiến bộ của lực lượng sản xuất, nhiều mô hình tổ chức sản xuất ra đời. Cách thức liên kết từng cá thể trong lao động sản xuất tạo ra hình thức tổ chức để sản xuất.
Lúc đầu là một hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp, liên hiệp doanh nghiệp, Công ty, tổng Công ty, tập đoàn kinh tế… Theo Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 thì Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Trong đó Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy, mỗi một doanh nghiệp được đặc trưng bởi các yếu tố như tính chất và loại hình sở hữu, quy mô và cách thức tổ chức hoạt động kinh doanh, nhành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp đều có đặc trưng chung là do chủ sở hữu (Hoặc các chủ sở hữu khác nhau) bỏ tiền ra đầu tư thành lập và mục tiêu tài chính cuối cùng chính là làm giàu cho chủ sở hữu - Người đã bỏ tiền thành lập doanh nghiệp.
Mục tiêu này đạt được thông qua việc tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Học viên: Dương Ngọc Tân 4 Lớp cao học QTKD 12AQTKD-HL Viện kinh tế và Quản lý - ĐHBK Hà Nội 2012-2014 1. Phân loại doanh nghiệp. Có thể phân loại doanh nghiệp theo nhiều căn cứ khác nhau: - Căn cứ vào hình thức pháp lý; - Căn cứ vào mục tiêu hoạt động chủ yếu; - Căn cứ vào chức năng hoạt động; - Căn cứ vào ngành và ngành kinh tế - kỹ thuật.
Các loại hình doanh nghiệp là khác nhau, khác nhau về tính chất sở hữu và mối quan hệ giữa chủ sở hữu và quản lý. Theo luật doanh nghiệp 2005, các doanh nghiệp bao gồm: - Doanh nghiệp tư nhân; - Công ty Hợp danh; - Công ty trách nhiệm hữu hạn (01 thành viên và nhiều thành viên); - Công ty cổ phần. Các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp. Như trên đã đề cập, kinh doanh là hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu cho chủ sở hữu.
Hoạt động kinh doanh cũng chính là hoạt động xác định một tổ chức/đơn vị kinh tế có phải là doanh nghiệp hay không. Theo luật Doanh nghiệp 2005, “ Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Dưới góc độ tài chính và quản lý, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể được mô tả như hình 1. Đầu vào (NVL, lao động) Đầu ra (Sản phẩm, dịch vụ) Doanh nghiệp: - Sản xuất, chế biến; Dòng tài chính ra - Chuyển hoá. Dòng tài chính vào Hình 1.1 Sơ đồ mô tả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dưới góc độ tài chính.
Học viên: Dương Ngọc Tân 5 Lớp cao học QTKD 12AQTKD-HL Viện kinh tế và Quản lý - ĐHBK Hà Nội 2012-2014 Mỗi một doanh nghiệp để bắt đầu quá trình kinh doanh với một lượng vốn nhất định dưới hình thức tiền hoặc các tài sản khác. Doanh nghiệp sẽ thu hút các đầu vào như nguyên vật liệu, hàng hóa, phụ tùng đầu vào và các dịch vụ đầu vào khác để tiến hành quá trình hoạt động chính của mình là sản xuất, chế biến hoặc chuyển hoá. Tính chất các hoạt động này tạo nên các loại hình doanh nghiệp sản xuất, chế biến, thương mại hay dịch vụ. Các doanh nghiệp sản xuất tiến hành quá trình làm thay đổi hình thức của nghuyên vật liệu, sản phẩm đầu vào tạo thành sản phẩm đầu ra đáp ứng nhu cầu nhất định thị trường.
Các doanh nghiệp thương mại không làm thay đổi hình thức tồn tại của các yếu tố đầu vào mà đơn giản chỉ chuyển hoá về mặt thời gian, địa điểm và cung cấp các dịch vụ gia tăng giá trị đối với các yếu tố đầu vào trước khi chuyển tới khách hàng. Các doanh nghiệp dịch vụ cung cấp các sản phẩm vô hình nhưng thoả mãn các nhu cầu nhất định của thị trường. Quá trình kinh doanh được thực hiện thông qua các quan hệ trao đổi. Để có các yếu tố đầu vào, doanh nghiệp phải trả tiền ngay, tiền trước hay tiền sau.
Như vậy giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp phát sinh dòng giá trị hay quan hệ tài chính. Ngược lại, doanh nghiệp cung cấp sản phẩm sẽ làm phát sinh quan hệ tài chính với khách ngoài. Ngoài ra, doanh nghiệp còn có mối quan hệ tài chính rất quan trọng với các nhà cung cấp tài chính trên thị trường tài chính (chủ sở hữu và chủ nợ), quan hệ với nhà nước trong việc đáp ứng các trách nhiệm tài chính với nhà nước (thuế, phí. Chu trình kinh doanh của doanh nghiệp cúng có thể được mô tả một cách đơn giản như sau: Tiền (Vốn đầu kỳ) Tài sản khác Tiền Học viên: Dương Ngọc Tân 6 Lớp cao học QTKD 12AQTKD-HL Viện kinh tế và Quản lý - ĐHBK Hà Nội 2012-2014 Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được bắt đầu bằng một lượng vốn nhất định (Thường dưới dạng vốn bằng tiền), tiền này được chuyển hoá thành các dạng tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, vật tư hàng hoá thông qua hoạt động đầu tư, mua từ nhà cung cấp.và sau đó tiếp tục được chuyển hoá thành tiền thông qua hoạt động cung cấp, bán cho khách hàng.
Dưới góc độ quản trị tài chính doanh nghiệp, hoạt động của doanh nghiệp bao gồm ba loại hoạt động chính: Hoạt động kinh doanh: Là các hoạt động trực tiếp và liên quan trực tiếp đến bán hàng hoá dịch vụ, sản xuất hàng hoá dịch vụ, mua nghuyên vật liệu, lao động, hàng hoá dịch vụ đầu vào và các chi phí phát sinh cho các hoạt động mua bán hàng này. Hoạt động kinh doanh là mảng hoạt dộng chủ yếu và thường xuyên của doanh nghiệp, trực tiếp mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư: Là các hoạt mua sắm các tài sản dài hạn, phục vụ cho việc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ như mua sắm, xây dựng nhà máy, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải.
Đây là hoạt động không thường xuyên nhưng là hoạt động nền tảng đối với sự phát triển, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp do vậy có vai trò quan trọng đối với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính (Tài trợ): Là các hoạt động huy động vốn để bảo đảm cho các khoản đầu tư của doanh nghiệp được thực hiện. Mặc dù không thường xuyên và không trực tiếp tạo ra giá trị cho doanh nghiệp nhưng hoạt động tài trợ cũng có vai trò rất quan trọng đến hiệu qủa kinh doanh của doanh nghiệp do có tính quyết định trong việc bảo đảm tính khả thi của các khoản đầu tư và tạo ra đòn bẩy tài chính nếu xem xét dưới góc độ chủ sở hữu doanh nghiệp. Các mô tả trên về quá trình kinh doanh của doanh nghiệp là cơ sở để nghiên cứu, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Học viên: Dương Ngọc Tân 7 Lớp cao học QTKD 12AQTKD-HL Viện kinh tế và Quản lý - ĐHBK Hà Nội 2012-2014 1. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh. Quan điểm truyền thống về hiệu quả sản xuất kinh doanh cho rằng, nói đến hiệu quả sản xuất kinh doanh tức là nói đến phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi chi phí.
Quan điểm mới về hiệu quả sản xuất kinh doanh cho rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ thể hiện ở riêng một chỉ tiêu nào mà nó còn bao gồm hệ thống các chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh trình độ khai thác, quản lý và sử dụng của doanh nghiệp về nhân lực, vật lực, trí lực… hay nói một cách chung nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh trình độ quản lý của mỗi doanh nghiệp. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình sản xuất và tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Đây cũng là thước đo quan trọng về tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá thực hiện các mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Nâng cao hiệu quả kinh doanh được hiểu là làm cho các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên thường xuyên và mức độ đạt được các mục tiêu định tính theo hướng tích cực.
Các phương pháp phân loại hiệu quả kinh doanh. Trong thực tiễn có nhiều cách phân loại hiệu quả kinh doanh khác nhau. Dưới đây là một số cách phân loại hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Hiệu quả tuyệt đối và tương đối.
Căn cứ theo phương pháp tính hiệu quả, người ta chia ra thành hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối. Hiệu quả tuyệt đối: Hiệu quả tuyệt đối là phạm trù chỉ lượng hiệu quả cho từng phương án kinh doanh, từng thời kì kinh doanh, từng doanh nghiệp. Nó tính toán bằng cách xác định mức lợi ích thu được với chi phí bỏ ra. Học viên: Dương Ngọc Tân 8 Lớp cao học QTKD 12AQTKD-HL Viện kinh tế và Quản lý - ĐHBK Hà Nội 2012-2014 Hiệu quả tương đối: Hiệu quả so sánh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp.
Nó được tính toán bằng công thức: H1 = KQ/CP (1) H2 = CP/KQ (2) Trong đó H1, H2 là hiệu quả kinh doanh, CP là chi phí, KQ là kết quả. Công thức (1) cho biết kết quả mà doanh nghiệp đạt được từ một phương án kinh doanh, từng thời kì kinh doanh.