Chương 1: Cơ sở lí luận về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Chương 2: Thực trạng đầu tư nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần Thủy sản Bình Định Chương 3: Giải pháp đầu tư nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần Thủy sản Bình Định 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ ĐẦU TƢ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY 1. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh và đầu tƣ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu, là động lực mà các doanh nghiệp theo đuổi. Tất cả mọi kế hoạch, phương pháp quản trị hay phương án kinh doanh đều đi đến mục tiêu làm sao để hiệu quả là cao nhất.
Cùng với sự phát triển của xã hội thì khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng được phát triển, được hoàn thiện. Tuy nhiên vẫn không ít các quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đã có rất nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra những phát biểu khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các phát biểu này thường xoay quanh các vấn đề so sánh giữa kết quả đầu ra với đầu vào, đánh giá khả năng sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được kết quả, mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để có thể hiểu chính xác và đầy đủ về hiệu quả sản xuất kinh doanh, trước tiên cần làm rõ khái niệm về “Kinh doanh” và khái niệm về “Hiệu quả” Khái niệm về kinh doanh Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. (Luật Doanh nghiệp, 2020) Khái niệm về hiệu quả Có 2 cách tiếp cận khái niệm về hiệu quả Nếu tiếp cận theo phương pháp truyền thống thì “Hiệu quả là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động và chi phí phải bỏ ra để đạt được kết quả đó của một chủ thể trong những điều kiện nhất định”. Với cách xách định hiệu quả này thì kết quả đạt được càng lớn hơn chi phí bỏ ra bao nhiêu thì hiệu quả càng cao bấy nhiêu. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp hiệu số của một chỉ tiêu kết quả và một chỉ tiêu chi phí sẽ là một chỉ tiêu kết quả khác.
Như vậy, theo phương pháp truyền thống này khái niệm hiệu quả và kết quả bị trùng lặp. Nếu tiếp cận khái niệm hiệu quả gắn với mục đích của chủ thể thì “Hiệu quả là một chỉ tiêu phản ánh mức độ thu lại được kết quả nhằm đạt được một mục đích nào đó của chủ thể tương ứng với một đơn vị nguồn lực đã bỏ ra trong quá trình thực hiện 8 hoạt động”. Với cách xác định này thì hiệu quả của một hoạt động nào đó được gắn với một mục đích nhất định, trong đó mục tiêu cụ thể đã được xác định chính là mức độ thu lại kết quả. Như vậy hiệu quả luôn gắn với mục tiêu nhất định, đồng nghĩa với việc không thể xác định hiệu quả của các hoạt động không có mục tiêu.
Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Thực chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh để tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó nhằm đạt được mục đích kinh doanh đề ra. Nói cách khác bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội, đóng góp vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp nói riêng và xã hội nói chung. Dưới đây là một số quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh: Quan điểm đầu tiên cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí thấp nhất.” (Nguyễn Công Văn, 2009) Quan điểm thứ hai cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp để lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong quá trình hoạt dộng thực tiễn ở mọi lĩnh vực kinh doanh và tại mọi thời điểm. Bất kỳ các quyết định cần đạt được phương án tốt tốt nhất trong điều kiện cho phép, giải pháp thực hiện có tính cân nhắc, tính toán chính xác phù hợp với sự tất yếu của quy luật khách quan trong từng điều kiện cụ thể.” (Đỗ Hoàng Toàn, 1994) Từ cơ sở trên ta có thể hiểu hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả thì hiệu quả càng cao, cụ thể là tối đa hóa lợi nhuận.
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả kinh doanh / Chi phí bỏ ra Chỉ tiêu trên cho ta thấy mối quan hệ tương quan giữa kết quả đạt được và nguồn lực bỏ ra. + Nếu chỉ tiêu trên lớn hơn hoặc bằng 1 cho thấy doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả vì kết quả đạt được lớn hơn chi phí bỏ ra. + Nếu chỉ tiêu trên nhỏ hơn 1 cho thấy doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không hiệu quả, thậm chí thua lỗ vì kết quả đạt được nhỏ hơn chi phí bỏ ra. Khái niệm đầu tư Đầu tư là một hoạt động kinh tế và là một bộ phận hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị, doanh nghiệp.
Nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng tiềm lực của nềnmkinh tế nói chung , tiềm lực sản xuất kinh doanh của các đơn vị nói riêng. Mỗi hoạt động đầu tư được tiến hành với rất nhiều công việc có những đặc điểm kinh tế - 9 kỹ thuật đa dạng. Nguồn lực cần huy động cho hoạt động đầu tư thường rất lớn và thời gian thu hồi vốn, lợi ích dài. Do đó để hoạt động đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế cao thì những người trực tiếp quản lý điều hành quá trình đầu tư và thực hiện đầu tư phải được trang bị đầy đủ các kiến thức về đầu tư và dự án đầu tư.
Theo Luật Đầu tư (2005): Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện, quản lý dự án đầu tư. Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng loại tài sản vô hình hoặc hữu hình để hình thành tài sản để tiến hành các hoạt động đầu tư. Theo nghĩa rộng “Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.
Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực”. (Bùi Xuân Phong, 2006) Theo nghĩa hẹp “Đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đêm lại cho nền kinh tế – xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó”. (Bùi Xuân Phong, 2006) Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Khái niệm đầu tư nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Từ cơ sở những khái niệm trên, ta có thể hiểu “Đầu tư nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện có để tiến hành các hoạt đầu tư, sửa chữa, nâng cấp các máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng, quy trình công nghệ, nguồn nhân lực, marketing,… nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng cao một cách bền vững.
Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực của các yếu tố đầu vào và tiết kiệm mọi chi phí. Vì vậy yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh đoanh là phải đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu hay chính xác hơn là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định. Chi phí ở đây được hiểu là chi phí tạo ra và sử dụng nguồn lực, bao gồm chi phí cơ hội. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh Để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả từng yếu tố tham gia vào quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thì ta phải dựa vào các chỉ tiêu sau để đánh giá.
Hệ thống chỉ tiêu tổng quát Hiệu quả kinh doanh = Kết quả kinh doanh / Yếu tố đầu vào Trong đó: - Kết quả kinh doanh được đo bằng các chỉ tiêu như giá trị tổng sản lượng, doanh thu thuần, lợi nhuận thuần, … - Yếu tố đầu vào là các chỉ tiêu như lao động, vốn chủ sở hữu, vốn vay,… Công thức trên phản ánh sức sinh lợi của các chỉ tiêu đầu vào được tính cho tổng số hay cho riêng phần gia tăng. Ngoài ra hiệu quả kinh doanh cũng được tính bằng cách so sánh nghịch đảo như sau: Hiệu quả kinh doanh = Yếu tố đầu vào / Kết quả đầu ra Công thức này phản ánh suất hao phí của các chỉ tiêu đầu vào, nghĩa là để có một đơn vị kết quả đầu ra thì hao phí hết bao nhiêu chi phí ở đầu vào. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh tổng hợp Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu kinh doanh của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là các chỉ tiêu phản ánh chính xác tình hình doanh nghiệp nên thường được dùng để so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau.