CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HIỆU QUA SAN XUẤT KINH DOANH CUA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh không phải là chủ đề quá mới tuy nhiên lại gan liền với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Chủ đề này trở thành vấn đề nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước: Các nghiên cứu trong nước: - Nguyễn Đình Hoàn (2017), “Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam”: tác giả xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh (HQSXKD) một cách day đủ và toàn diện, chỉ rõ chỉ tiêu nào là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất, chỉ tiêu nào là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời và một số chỉ tiêu khác phản ánh HQSXKD. Việc luận án tiếp cận HQSXKD theo hướng hiện đại với các chỉ tiêu phản ánh HQSXKD gắn với thị trường chứng khoán là tương đối mới mẻ; tác giả đã nghiên cứu và đưa ra những kinh nghiệm về nâng cao HQSXKD của các DNXD ở nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra các bài học cho doanh nghiệp xây dựng Việt Nam dé nâng cao hơn nữa HQSXKD.
- Phạm Anh Tuan (2017), “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Tổng công ty Bưu điện Việt Nam”: tác giả đã hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của các bưu điện thông qua hai nhóm chỉ tiêu: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế và nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội; các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh; luận án đã sử dụng mô hình kinh tế lượng xem xét tác động của hiệu quả kinh doanh đến tỷ lệ tăng trưởng bên vững. - Trần Thị Bích Nhân (2016), “Do lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua công tác quản trị tài sản”, Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 3: Tác giả đã hệ thống nhóm các tỷ số hiệu quả hoạt động được thiết kế trên cơ sở giá trị tài sản, sử dụng sô liệu mang tính thời điêm trên bảng cân đôi kê toán với doanh thu hoặc giá vốn, sử dụng số liệu thời kỳ trên báo cáo kết quả kinh doanh. Tác giả đã đề ra vai trò của phân tích các tỷ số hiệu quả hoạt động trong đánh giá tình hình quản lý và sử dụng tài sản của DN và lưu ý khi tiến hành phân tích cần xem xét đặc điểm của từng ngành, từng lĩnh vực kinh doanh cũng như phải đặt DN trong mối quan hệ với các đối thủ cạnh tranh dé có các nhận định khách quan va chính xác. - Nguyễn Thi Ngọc Thảo (2015), “Phân tích các nhân tô ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các công ty thuộc nhóm ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh”: tác giả đã khái quát các nhóm chỉ số đánh giá hiệu quả kinh doanh, sử dụng các mô hình hồi quy để đưa chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh đó.
- Đoàn Thục Quyên (2015), “Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”: tác giả chỉ ra những cơ hội và thách thức trong hoạt động kinh doanh đối với các doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên TTCK Việt Nam, đưa ra các quan điểm nâng cao hiệu quả kinh doanh đã đề xuất được hệ thống các giải pháp phù hợp, khả thi để nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên TTCK Việt Nam. Các giải pháp được đề xuất phù hợp với thực trạng của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên TTCK Việt Nam nên có tính ứng dụng cao. - Trần Thị Thu Phong (2013), “Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh trong các công ty cô phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”: tác giả thông qua việc trình bảy hệ thống chỉ tiêu đo lường kết quả đầu ra với yêu tố đầu vào đã đi vào phân tích HQSXKD của các công ty cô phan niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả đã đề xuất các giải pháp thiên về nâng cao kỹ thuật phân tích hiệu quả, chưa đi sâu vào các giải pháp để nâng cao HQSXKD.
- Lê Phương Dung và Nguyễn Thị Thùy Trang (2013), “Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp”, Tạp chí Kinh tế phát triển số 5 (271): nghiên cứu nay đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tai chính của doanh nghiệp thông qua việc sử dụng số liệu báo cáo tài chính của 50 doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam. Hai tác giả đã đưa ra kết qua cho thấy các nhân tố tỷ lệ thuận đến cấu trúc tài chính ngành vật liệu xây dung là tỷ suất nợ năm trước, quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng, cùng với đó đã chỉ ra các nhân té tỷ lệ nghịch với cấu trúc tài chính doanh nghiệp là hiệu quả kinh doanh và tính thanh khoản. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đi sâu về nghiên cứu hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. - Phạm Thị Vân Anh (2012), “Các giải pháp nâng cao năng lực tài chính của Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay”: Tác giả đã khái quát một cách có hệ thống nhận thức về vấn đề năng lực tài chính doanh nghiệp trên các mặt khái niệm, nội dung, các tiêu chí đánh giá và những nhân tố ảnh hưởng.
Luận án đã đánh giá được một số ưu điểm, hạn chế về thực trang năng lực tài chính cua DN nhỏ va vừa ở Việt Nam giai đoạn 2007-2012 băng cách sử dụng mô hình kinh tế lượng để chỉ ra tác động của năng lực tài chính tới sự tăng trưởng bền vững của các DN nhỏ và vừa ở Việt Nam. Các nghiên cứu nước ngoài: - Muhammad Muzaffar Sardi, Ammar Ali Gull and et al (2013), “Impact of Capital structure on banking performance: A case study of Pakistan”: Day la nghién cứu dựa trên nguồn dự liệu thu thập từ năm 2007-2011 nhằm đánh giá tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu ROA, ROE, EPS với các biến độc lập bao gồm tỷ lệ nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, tổng nợ trên VCSH va 2 biến kiểm soát là tốc độ tăng trưởng TTS và quy mô của 25 ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi, Pakistan. Nghiên cứu đưa ra kết quả rằng tỷ lệ nợ ngắn hạn, tổng nợ và quy mô doanh nghiệp có tác động cùng chiều, mặt khác, tỷ lệ nợ dài hạn tác động ngược chiều với ROA, ROE và EPS, còn tốc độ tăng trưởng tài sản không ảnh hưởng đến ROA và ROE. - Ong Tze San and The Boon Heng (2011), “Capital structure and corporate performance of Malaysian contruction sector”: Nghiên cứu của hai tác giả nhằm do lường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dựa trên các chỉ tiêu tài chính như ROA, ROE, EPS với các biến phụ thuộc phản ánh chỉ số nợ.
Các tác giả lây dt liệu của 49 DN ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Malaysia trong giai đoạn từ 2005 đến 2008, được chia thành 3 nhóm quy mô lớn, vừa và nhỏ. Các tác giả đã đưa ra kết quả cho thấy, với nhóm DN lớn lợi nhuận trên vốn với nợ trên giá trị thị trường của cô phiếu và thu nhập mỗi cô phần thường với nợ dài hạn trên cô phiếu thường có quan hệ dương: trong khi thu nhập mỗi cô phiếu với nợ trên vốn có quan hệ âm, chỉ có lợi nhuận hoạt động biên với nợ dài hạn trên cổ phần thường có quan hệ cùng chiều ở doanh nghiệp quy mô trung bình và thu nhập mỗi cổ phiếu với nợ trên vốn có quan hệ âm trong nhóm doanh nghiệp nhỏ. - Ming Cheng Wu and et al (2010), “The effect of corporate governance on firm performance”: Công trình này chuyên sâu về anh hưởng của quan trị doanh nghiệp đến hiệu quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu ROA, Tobin’s Q với các biến giải thích bao gồm quy mô của Ban quản trị, mức độ độc lập của Ban quản trị, tỷ lệ sở hữu của Ban quản lý, sở hữu bên trong của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Dai Loan dựa trên dir liệu các tác gia thu thập được từ năm 2001 đến 2008. Nghiên cứu đã đưa ra kết quả rằng sự độc lập của HĐQT, tỷ lệ sở hữu của HĐQT có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong khi quy mô HĐQT lại mang lại ảnh hưởng tiêu cực.
Ngoài những công trình trên, trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu khác đi sâu vào hiệu quả hoạt động, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ở các lĩnh vực khác nhau như: sản xuất, dịch vụ, tài chính, ngân hàng. Dưới những góc độ và mức độ khác nhau, các công trình nghiên cứu khác về hiệu quả sản xuất kinh doanh ở Việt Nam cũng được công bố, đăng tải trên các sách, báo khác nhau, trong các đề tài khoa học, tạp chí kinh tế. Các nghiên cứu trên đây đã chỉ ra cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh nói chung trên nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau, của nhiều nhóm doanh nghiệp. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp khép kín nói chung, cũng như của công ty CP Nafoods Group nói riêng.
Bởi vậy, trên cơ sở kê thừa và phát triên các cơ sở lý luận của các nghiên cứu trước đây, tác giả lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty CP Nafoods Group” dé nghiên cứu. Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh a) Khái niệm hiệu quả và hiệu quả kinh tế Theo từ điển phân tích kinh tế: hiéu quả là thuật ngữ dùng dé chỉ một phân bổ tốt nhất có thể. Còn theo từ điển kinh tế Anh Việt: hiệu quả là mối tương quan giữa đầu vào của các yêu tô khan hiếm với đầu ra là những hàng hóa, dịch vụ.
Tùy theo hình thái đo lường khác nhau mà hiệu quả được gọi là hiệu quả kỹ thuật (đo lường bằng hiện vật) hoặc hiệu quả kinh tế (đo lường băng chỉ phí). Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: hiéu qua là “kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi và hướng tới; nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau. Trong sản xuất, HQ có nghĩa là hiệu suất, là năng suất. Trong kinh doanh, HQ là lãi suất, lợi nhuận.