Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE NÂNG CAO HIỆU QUA SAN XUẤT KINH DOANH CUA DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VUC SAN XUẤT BIA —- RƯỢU — NƯỚC GIẢI KHÁT 1.Téng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn Vấn đề nâng cao hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu vấn đề này ở những khía cạnh khác nhau. Về sách và giáo trình Đáng chú ý có: Nguyễn Ngọc Huyền (2014), Giáo trình quản trị kinh doanh, Nxb Đại học kinh tế Quốc dân, tái bản lần 7; Phạm Văn Dược (2004), Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, Nxb Thong Kê, Thành phố Hồ Chí Minh; Pham Thị Gái (2004), Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, Nxb Thống Kê, Hà Nội. Trong các giáo trình này, các tác giả đã nêu tổng quát các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, như: năng lực tài chính, chất lượng lao động, năng lực quản tri, thị trường, v.v; đồng thời, chỉ ra hệ thong các chỉ tiêu phan tích, đánh giá hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, trong đó có các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp, chỉ tiêu đánh giá cụ thể hệ quả sử dụng TSNH, TSDH, sử dụng lao động, v.
Bên cạnh đó, các giáo trình cũng chỉ ra những giải pháp xét ở khía cạnh lý luận chung nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, như: vốn, nguyên vật liệu, lao động.trong SXKD, giúp doanh nghiệp đạt được lợi nhuận tối đa. Day là những cứ liệu rất bổ ích cho học viên tham khảo xây dựng cơ sở lý luận của luận văn. Các luận án, luận văn sau đại học Liên quan đến đề tài mà luận văn học viên nghiên cứu, đáng chú ý có một sé luận văn thạc sỹ kinh tế đã bảo vệ. Thứ nhất, nhóm luận văn bàn về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, có: Nguyễn Thi Nga (2012), Giải pháp nâng cao hiệu qua sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phân Viễn thông Hà Nội, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Bưu chính viễn thông, Hà Nội; Đoàn Thúy Vân (2012), Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phan chứng khoán Sài Gòn, Luận văn Thạc sĩ kinh tê, Đại học Ngoại Thương, Hà Nội; Phạm Đăng Ninh (2014), Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cô phan bóng đèn phích nước Rang Đông, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh doanh và công nghệ, Hà Nội.
Các luận văn này tập trung bàn vấn đề nâng cao hiệu quả của một yếu tố đầu vào trong quá trình SXKD của doanh nghiệp là vốn, chứ không bàn đến nâng cao hiệu quả toàn bộ quá trình SXKD của doanh nghiệp. Hơn nữa, các luận văn này bàn đến hoạt động SXKD của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực viễn thông, sản xuất bóng đèn, phích nước, hay kinh doanh chứng khoán, mà không bàn đến loại hình doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vực B - R - NGK. Tuy nhiên, các luận văn này cũng có thé làm tài liệu tham khảo bổ ích cho học viên, nhất là khi các luận văn bản đến các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn nói chung; các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực, đến năng lực quản trị của chủ doanh nghiệp và các biện pháp làm tăng tốc độ chu chuyền của đồng vốn. Thứ hai, nhóm các luận văn nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, có: Trương Thị Thu Hồng (2013), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty cô phan viễn thông Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học Viện Bưu chính viễn thông, Hà Nội; Trần Duy Long (2013), Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phan cảng Nam Hai, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Hang hải, Hải Phòng.
Hai luận văn nay tập trung đánh giá thực trạng hiệu quả SXKD của 2 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực viễn thông và kinh doanh cảng, mà không nghiên cứu vấn đề hiệu quả SXKD của doanh nghiệp sản xuất B— R — NGK. Tuy nhiên, các tác giả của hai luận văn này cũng đã đề cập đến một số vấn đề lý luận chung về hiệu quả SXKD của doanh nghiệp nói chung; đồng thời, cũng gợi mở những biện pháp có thé áp dung chung cho nhiều loại hình doanh nghiệp khi tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả SXKD của mình, như: nâng cao năng lực tài chính, nâng cao năng lực quản trị và nguồn nhân lực, đây mạnh bán hang dé tăng doanh thu, giảm chi phí, v. Do là những kiến thức mà học viên có thé tham khảo trong quá trình triển khai nghiên cứu luận văn của mình. Thứ ba, nhóm luận văn nghiên cứu van dé nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp sản xuất B — R — NGK, đáng chú ý có: Trần Huy Binh (2008), Xây dựng một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho Công ty Bia NADA, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
Tác giả luận văn này đã dé cập đến các yếu tô ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD của doanh nghiệp sản xuất B — R — NGK; dong thời, tập trung đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả SXKD của Công ty bia NADA; trong đó, có các biện pháp về thị trường, tài chính, giá cả, đổi mới thiết bị kỹ thuật, nâng cao chất lượng người lao động. là những giải pháp mà học viên có thé tham khảo trong quá trình triển khai luận văn thạc sĩ của mình. Tóm lại, đã có một số giáo trình, luận văn thạc sĩ kinh tế đề cập đến một số van đề lý luận về hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, đưa ra các gợi ý về giải pháp nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp trên cơ sở phân tích thực trạng SXKD của các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào trực tiếp nghiên cứu về việc nâng cao hiệu quả SXKD tại Công ty cô phần bia Hà Nội - Nghệ An.
Mặc dù vậy, những thông tin mà các công trình đã công bố nói trên rất bổ ích, mà học viên có thê kế thừa dé triển khai nghiên cứu đề tài “Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty cô phần bia Hà Nội - Nghệ An thuộc Tổng Công ty cổ phan bia — rượu — nước giải khát Hà Nội”. Từ khảo sát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố nói trên và từ mục đích nghiên cứu đặt ra, thì câu hỏi cho quá trình triển khai nghiên cứu đề tài luận văn của học viên là: thực trạng hiệu quả SXKD của CTCP bia Hà Nội — Nghệ An như thế nào? đâu là nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quả SXKD của Công ty? Phải bằng những giải pháp cơ bản nào để nâng cao hiệu quả SXKD của Công ty trong thời gian tới? 1. Quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh và các yếu tố chỉ phối hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực bia — rượu — nước giải khát 1. Đặc thù của lĩnh vực sản xuất kinh doanh bia — rượu — nước giải khát Sản xuất kinh doanh B - R - NGK là lĩnh vực sản xuất ra đồ uống với rất nhiều mặt hàng có sé lượng lớn; có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống xã hội, gắn liền với sức khỏe của người tiêu dùng thế hệ hôm nay và mai sau.
Bên cạnh những đặc điểm giống như các ngành kinh doanh khác, sản xuất kinh doanh B - R - NGK có những điểm đặc thù riêng: Thứ nhất, đó là yêu cấu về vệ sinh an toàn thực phẩm cao; bởi ngành sản xuất B - R - NGK là một ngành công nghiệp chế biến từ những nguyên liệu đầu vào, như: nước, hoa quả, đại mạch. để sản xuất ra các sản phẩm B-R-NGK phục vụ nhu cầu về đồ uống cho con người. Sản phẩm của ngành là những thực phẩm, do đó chất lượng của nó tác động trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng. Vì vậy, đảm bảo các tiêu chuẩn về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm là yêu cầu hàng đầu đối với sản xuất B - R - NGK.
Ở Việt Nam, yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm B- R - NGK đã được quy định trong Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm (số 12/2003/PL-UBTVQHII, ban hành ngày 26 tháng 07 năm 2003) và một số tiêu chuẩn cụ thể đối với từng sản phẩm, như: tiêu chuẩn cho sản phẩm nước khoáng thiên nhiên đóng chai, nước tinh lọc hay đối với các loại bia, rượu, v. Đề đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, cần đảm bảo các điều kiện từ khâu sản xuất đến phân phối, tiêu dùng. Thứ hai, do B - R - NGK là những thực phẩm chế biến nên có thời hạn sử dụng không dài. Các sản pham bia tươi, bia hơi chỉ sử dụng được trong vòng một đến hai tuần; bia lon, bia chai, nước hoa quả, nước uống bổ dưỡng thường có thời hạn sử dụng 6 tháng; nước khoáng, nước tinh lọc thì trong khoảng một năm.
Từ đặc tính này của sản phẩm mà việc sản xuất B - R - NGK phải đặc biệt chú trọng gắn kết với hoạt động phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Việc chậm tiêu thụ các sản phẩm bia không chỉ làm tăng chỉ phí lưu kho, mà còn có nguy cơ phải hủy bỏ sản phâm đã sản xuất ra do chất lượng sản pham hết thời han sử dụng; kết cục là làm tăng chi phí sản xuất. Thứ ba, san phẩm rượu, bia phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt; bởi đây là những sản phẩm Nhà nước hạn chế sử dụng. Rượu, bia là những đồ uống có côn, mà việc lạm dụng sử dụng chúng có thé dẫn đến những tác dụng tiêu cực, dễ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng và trật tự an toàn xã hội.
Theo thông tin từ Hội thảo: “Chia sẻ kinh nghiệm về xây dựng chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của sử dụng rượu bia” do Viện Chiến lược và chính sách y tế t6 chức ngày 18/3/2009 tại Hà Nội, thì lạm dụng sử dụng rượu, bia đứng hàng thứ 5 trong 10 nguyên nhân gây tử vong cao nhất trên toàn cầu.