Luận án tiến sĩ về công nghệ dập khối chi tiết truyền động từ phôi ống

Luận án tiến sĩ nghiên cứu công nghệ dập khối chi tiết truyền động từ phôi ống, khám phá quy trình và ứng dụng trong sản xuất công nghiệp.

Chuyên ngành

Cơ khí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

148
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái quát về các chi tiết truyền động

1.2. Khái quát về công nghệ dập khối chế tạo các chi tiết truyền động

1.3. Nguyên công chồn trong công nghệ dập khối

1.4. Các nghiên cứu trong và ngoài nước về công nghệ chồn

1.4.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

1.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH CÔNG NGHỆ CHỒN TỪ PHÔI ỐNG

2.1. Ứng suất và biến dạng trong quá trình chồn

2.2. Chồn phôi ở trạng thái nóng

2.3. Ma sát trên bề mặt tiếp xúc phôi - khuôn

2.4. Khuyết tật trong quá trình chồn ống

2.5. Đường cong chảy của vật liệu

2.6. Xây dựng mô hình nghiên cứu công nghệ chồn ống

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH CHỒN CỤC BỘ PHÔI ỐNG NHỜ MÔ PHỎNG SỐ

3.1. Ứng dụng mô phỏng số trong nghiên cứu công nghệ dập tạo hình

3.2. Các bước thiết lập bài toán mô phỏng số

3.3. Mô phỏng số quá trình chồn phôi ống

3.3.1. Lựa chọn phần mềm

3.3.2. Thiết lập mô hình chồn đầu phôi ống với chày phẳng

3.3.3. Thiết lập bài toán mô phỏng số với Deform 3D

3.3.4. Khảo sát xác định thời điểm mất ổn định và hình thành khuyết tật gấp khi chồn

3.3.4.1. Kết quả khảo sát với H0/D = 0,4
3.3.4.2. Kết quả khảo sát với H0/D0 = 0,6
3.3.4.3. Kết quả khảo sát với H0/D0= 0,8
3.3.4.4. Kết quả khảo sát với H0/D0 = 1,0
3.3.4.5. Khảo sát ảnh hưởng của thông số hình học phôi tới mức độ biến dạng và lực tạo hình

3.3.5. Khảo sát quá trình chồn phôi ống với chày côn

3.3.5.1. Kết quả mô phỏng với góc nghiêng chày α = 50
3.3.5.2. Kết quả mô phỏng với góc nghiêng chày α = 100
3.3.5.3. Kết quả mô phỏng với góc nghiêng chày α = 150
3.3.5.4. Kết quả mô phỏng với góc nghiêng chày α = 200
3.3.5.5. Khảo sát ảnh hưởng của góc nghiêng chày tới mức độ biến dạng và lực tạo hình

4. CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM KIỂM CHỨNG KẾT QUẢ MÔ PHỎNG

4.1. Xây dựng hệ thống thực nghiệm quá trình chồn phôi ống

4.1.1. Máy ép trục khuỷu

4.1.2. Khuôn thí nghiệm

4.1.3. Thiết bị nung và đo nhiệt

4.1.4. Hệ thống đo lực, xử lý tín hiệu và hiển thị kết quả

4.1.5. Thiết bị đo mức độ biến dạng

4.1.6. Kết nối hệ thống thực nghiệm

4.2. Thực nghiệm kiểm chứng và kết quả

4.2.1. Trình tự tiến hành thực nghiệm

4.2.2. Kết quả thực nghiệm và đối sánh

5. CHƯƠNG 5: XÂY DỰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC THỂ HIỆN ẢNH HƯỞNG CỦA THÔNG SỐ HÌNH HỌC PHÔI VÀ KHUÔN ĐẾN MỨC ĐỘ BIẾN DẠNG VÀ LỰC TẠO HÌNH TRONG CHỒN ỐNG

5.1. Thiết kế thực nghiệm

5.2. Phân tích phương sai

5.3. Phân tích ảnh hưởng và mức phù hợp của các thông số hình học phôi và khuôn tới mức độ biến dạng và lực tạo hình

5.3.1. Phân tích ảnh hưởng, mức phù hợp của các thông số hình học phôi (tỉ số H0/D0; S0/D0) và góc nghiêng chày (α) tới mức độ biến dạng

5.3.2. Phân tích ảnh hưởng và mức phù hợp của các thông số hình học phôi (tỉ số H0/D0; S0/D0) và góc nghiêng chày (α) tới lực tạo hình

5.4. Ứng dụng dập chi tiết bánh răng từ phôi ống

5.4.1. Chi tiết bánh răng

5.4.2. Tính toán kích thước phôi ban đầu

5.4.3. Xác định các bước công nghệ cơ bản dập bánh răng từ phôi ống

5.5. Tính toán nguyên công chồn

5.6. Tính toán nguyên công dập trong khuôn kín

5.7. Kết quả thực nghiệm dập bánh răng

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Công nghệ dập khối đã trở thành một phần quan trọng trong sản xuất các chi tiết cơ khí, đặc biệt là các chi tiết truyền động. Việc nghiên cứu và phát triển công nghệ này không chỉ giúp tiết kiệm vật liệu mà còn nâng cao hiệu quả sản xuất. Trong bối cảnh hiện nay, việc chế tạo các chi tiết rỗng từ phôi ống đang được chú trọng nhằm giảm thiểu lãng phí và tối ưu hóa quy trình sản xuất. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu tìm hiểu và cải tiến quy trình dập khối từ phôi ống, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất.

1.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính của nghiên cứu là xây dựng phương pháp xác định thời điểm mất ổn định và quá trình hình thành khuyết tật trong quá trình chồn phôi ống. Nghiên cứu sẽ thiết lập mối quan hệ giữa mức độ biến dạng và lực chồn phụ thuộc vào các thông số hình học của phôi ống và khuôn. Điều này không chỉ có ý nghĩa lý thuyết mà còn có giá trị thực tiễn trong việc ứng dụng công nghệ dập khối để chế tạo các chi tiết truyền động dạng rỗng.

II. Cơ sở lý thuyết phân tích công nghệ chồn từ phôi ống

Nghiên cứu về công nghệ dập khối từ phôi ống cần phải xem xét các yếu tố như ứng suất và biến dạng trong quá trình chồn. Việc phân tích ứng suất và biến dạng giúp hiểu rõ hơn về các khuyết tật có thể xảy ra trong quá trình sản xuất. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, việc lựa chọn phôi ống phù hợp và điều kiện biến dạng là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng sản phẩm. Các phương pháp mô phỏng số cũng đã được áp dụng để dự đoán và tối ưu hóa quy trình dập khối.

2.1. Ứng suất và biến dạng trong quá trình chồn

Trong quá trình chồn, ứng suất và biến dạng là hai yếu tố quyết định đến chất lượng sản phẩm. Việc phân tích ứng suất giúp xác định các điểm yếu trong phôi ống và dự đoán khả năng hình thành khuyết tật. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc kiểm soát ứng suất trong quá trình dập khối có thể giúp giảm thiểu các khuyết tật và nâng cao hiệu suất sản xuất. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc chế tạo các chi tiết truyền động, nơi mà độ chính xác và chất lượng là rất cần thiết.

III. Nghiên cứu quá trình chồn cục bộ phôi ống nhờ mô phỏng số

Mô phỏng số đã trở thành một công cụ hữu ích trong việc nghiên cứu và tối ưu hóa quy trình dập khối. Nghiên cứu này sẽ áp dụng mô phỏng số để khảo sát quá trình chồn phôi ống. Các bước thiết lập bài toán mô phỏng sẽ được thực hiện để xác định các thông số ảnh hưởng đến quá trình dập khối. Kết quả từ mô phỏng sẽ được so sánh với thực nghiệm để đánh giá tính chính xác và hiệu quả của mô phỏng trong việc dự đoán hành vi của phôi ống trong quá trình chồn.

3.1. Ứng dụng mô phỏng số trong nghiên cứu công nghệ dập tạo hình

Mô phỏng số cho phép nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chồn mà không cần phải thực hiện nhiều thí nghiệm thực tế. Việc sử dụng phần mềm mô phỏng như Deform 3D giúp xác định các thông số tối ưu cho quá trình dập khối. Kết quả từ mô phỏng sẽ cung cấp thông tin quý giá về mức độ biến dạng và lực chồn, từ đó giúp cải thiện quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.

IV. Thực nghiệm kiểm chứng kết quả mô phỏng

Thực nghiệm là bước quan trọng để kiểm chứng các kết quả từ mô phỏng số. Hệ thống thực nghiệm được xây dựng với các thiết bị hiện đại nhằm đo lường các thông số trong quá trình chồn phôi ống. Kết quả thực nghiệm sẽ được so sánh với kết quả mô phỏng để đánh giá độ chính xác và tính khả thi của mô hình. Việc này không chỉ giúp xác nhận các giả thuyết mà còn cung cấp thông tin để điều chỉnh quy trình sản xuất cho phù hợp hơn với thực tế.

4.1. Trình tự tiến hành thực nghiệm

Trình tự thực nghiệm sẽ được thực hiện theo các bước đã được xác định trong nghiên cứu. Các thông số như lực chồn, mức độ biến dạng sẽ được ghi nhận và phân tích. Kết quả thực nghiệm sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình dập khối và giúp xác định các yếu tố cần thiết để tối ưu hóa quy trình sản xuất. Việc so sánh giữa kết quả thực nghiệm và mô phỏng sẽ giúp đánh giá tính chính xác của mô hình và khả năng ứng dụng trong thực tế.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CHỒN TRONG CÔNG NGHỆ DẬP KHỐI CHI TIẾT TỪ PHÔI ỐNG 1.1 Khái quát về các chi tiết truyền động Các chi tiết dạng bánh răng, trục truyền lực, khớp nối, trục khuỷu… xuất hiện khá phổ biến trong các hệ thống, thiết bị, hộp số, cụm chi tiết truyền động cơ khí (Hình 1. Các chi tiết này có nhiều hình dạng khác nhau nhưng chủ yếu là các chi tiết dạng đối xứng trục có vai, vấu, răng để truyền mô men xoắn, ăn khớp khi làm việc. Có rất nhiều các chi tiết máy như bánh răng, khớp nối, trục truyền lực có dạng rỗng.

Cho đến những năm 1980, các chi tiết truyền động này được chế tạo bằng các công nghệ đúc, gia công cắt gọt, sau đó nhiệt luyện. Do đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao khi làm việc như chịu tải trọng động, tải trọng nhiệt, mài mòn… hơn nữa, yêu cầu sản xuất loạt lớn của nền công nghiệp, nên công nghệ dập khối dần thay thế công nghệ gia công cắt gọt. Các chi tiết này được chế tạo bằng công nghệ dập khối nóng, sau đó gia công cơ hoàn thiện và nhiệt luyện. Trong vòng 20 năm trở lại đây, tất cả các chi tiết truyền động trong các thiết bị truyền lực, hộp số ở các thiết bị máy móc hay ô tô đều được sản xuất bằng công nghệ dập khối để đem lại những hiệu quả cao về kinh tế và đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của chi tiết.1 Các chi tiết bánh răng, vành răng, bánh răng liền trục [1,2] Để đảm bảo được yêu cầu làm việc và độ bền lâu, các chi tiết truyền động được chế tạo từ thép hợp kim thấp có chứa nguyên tố Cr và một lượng nhỏ Mn, Mo.

5 luan an Những mác vật liệu hay được sử dụng theo TCVN 1765-85 có 15Cr, 20Cr, 20CrMo, 18CrMnTi. Đối với các chi tiết bánh răng cỡ vừa và nhỏ vật liệu sử dụng thường là thép C40, C45. Chi tiết sau khi dập khối được công cơ, nhiệt luyện, thấm các bon hay nitơ để nâng cao khả năng chịu mài mòn.2 Khái quát về công nghệ dập khối chế tạo các chi tiết truyền động 1.1 Dập khối Dập khối là một phương pháp công nghệ trong gia công kim loại bằng áp lực (gia công áp lực) dựa trên tính dẻo của vật liệu, trong đó vật liệu kim loại được biến dạng dẻo và điền đầy lòng khuôn và tạo ra chi tiết có kích thước, biên dạng giống như lòng khuôn [1],[2],[3]. Dập khối đã xuất hiện và được áp dụng phổ biến từ rất lâu.

Bắt đầu từ thế kỷ thứ 15 được áp dụng để chế tạo vũ khí, máy móc thiết bị phục vụ nông nghiệp, công nghiệp. Theo thời gian, công nghệ này ngày càng được phát triển và đến nay dập khối được thực hiện trên các thiết bị tự động, điều khiển, trong những điều kiện nhiệt độ khác nhau và phù hợp với tất cả các loại vật liệu có tính dẻo.2 Sơ đồ công nghệ dập khối [2] Dập khối được thực hiện qua các bước công nghệ (Hình 1.2): - Chuẩn bị phôi: Phôi được chuẩn bị làm sạch trước với kích thước theo thiết kế và thường có hình dáng ban đầu đơn giản (dạng trụ, thanh có tiết diện ngang hình vuông, chữ nhật) - Nung phôi: Đối với các loại vật liệu khó biến dạng, phôi được nung đến nhiệt độ phù hợp (thường là nhiệt độ dập nóng). Việc nung phôi rất quan trong nhằm tăng tính dẻo cho kim loại, nâng cao khả năng biến dạng dẻo, giảm năng lượng dập tạo hình. Đối với một số trường hợp kim loại dễ biến dạng, hoặc mức độ biến dạng không lớn, có thể bỏ qua nung phôi và tạo hình ở trạng thái nguội.

- Dập khối: Đây là nguyên công chính, có thể được thực hiện qua nhiều bước nguyên công như tạo hình sơ bộ sau đó dập khối trong khuôn hở (dập thô, dập tinh) hoặc dập trong khuôn kín để tạo hình chi tiết. - Xử lý sau khi dập: Sản phẩm sau khi dập có thể trải qua các công đoạn hoàn thiện như gia công cơ, nhiệt luyện… - Trong sơ đồ công nghệ dập khối có thể thấy được 2 giai đoạn rất quan trọng, quyết định sự thành công của công nghệ đó là nung phôi và dập khối. Nung phôi đảm bảo cho đạt được nhiệt độ của phôi đến nhiệt độ tạo hình và ổn định nhiệt độ của phôi trên toàn bộ thể tích. Tuỳ vào vật liệu mà nhiệt độ bắt đầu 6 luan an tạo hình có thể khác nhau.

Thông thường đối với thép nhiệt độ bắt đầu tạo hình là từ 11000C đến 12000C. Dập khối thường chia ra nguyên công dập sơ bộ nhằm đưa hình dạng của phôi ban đầu đơn giản về gần giống với sản phẩm để đảm bảo cho nguyên công dập tinh cuối cùng được thành công, kim loại điền đầy lòng khuôn, tạo ra sản phẩm chính xác. Các nguyên công dập sơ bộ thường được sử dụng đó là chồn, ép tụ, vuốt, uốn, cán chu kỳ… trong đó nguyên công chồn sử dụng khá phổ biến. Sau khi tạo hình sơ bộ, phôi được đưa vào dập trong lòng khuôn.

Có 2 dạng khuôn được sử dụng là khuôn hở và khuôn kín [1],[2]. Khuôn hở được áp dụng đối với những chi tiết có hình dạng phức tạp, nhiều ngóc ngách, khó tính toán chính xác thể tích của sản phẩm. Khuôn kín được áp dụng với những sản phẩm có thể tính toán chính xác thể tích chi tiết, khuôn dễ dàng lắp các hệ thống chống quá tải, dễ kết thúc chính xác hành trình dập (Hình 1. Hiện nay, trong công nghệ dập khối, với khả năng tính toán và đánh giá quá trình biến dạng trước nhờ mô phỏng số, các nhà kỹ thuật thường thiết kế khuôn kín nhằm tiết kiệm thời gian, vật liệu và năng lượng cho các nguyên công cắt biên.

a) khuôn hở b) khuôn kín Hình 1.3 Dập khối trên khuôn hở và khuôn kín [2] Nguyên công chồn và các nguyên công khác trong dập khối được thực hiện phổ biến trên các loại thiết bị thông dụng như máy búa (búa hơi, búa không khí nén, búa thuỷ lực, máy ép trục khuỷu dập nóng, máy ép ma sát trục vít, máy dập cung điện stator (Hình 1. Máy búa Máy ép ma sát trục vít Máy ép trục khuỷu Hình 1.4 Các thiết bị chính sử dụng để đập khối [2] Các chi tiết truyền động trong các thiết bị cơ khí nói chung có rất nhiều hình dạng khác nhau, hình dạng khối đặc, dạng bậc, có vai, rãnh, gờ, răng để liên kết và truyền chuyện động, mô men cho các chi tiết khác (Hình 1. Đặc biệt trong các bộ truyền động, hộp số, hộp giảm tốc, hộp chia lực thường sử dụng rất nhiều bánh răng, khớp nối vấu có dạng trụ, rỗng để lắp lên trục. Đến nay, hầu hết 7 luan an các chi tiết này đều được dập khối qua các nguyên công: nung, chồn cục bộ, dập khối trong khuôn kín hoặc ép chảy, gia công cơ và gia nhiệt luyện.5 Các chi tiết truyền động dạng trục rỗng Hình 1.6 Chi tiết lắp ráp trong thiết bị cơ khí dạng trục rỗng Các chi tiết truyền động và lắp ráp cơ khí như trên Hình 1.6 dạng trục rỗng được rất nhiều hãng sản xuất, có thể tìm thấy trong các tài liệu kỹ thuật của hãng và trên internet.

Nhiều nhà máy, các cán bộ kỹ thuật vẫn lựa chọn công nghệ để chế tạo các chi tiết rỗng từ dập khối phôi đặc, sau đó gia công khoan lỗ giữa. Để tiết kiệm vật liệu, tránh gia công cơ phải cắt bỏ đi nhiều vật liệu (đôi khi chiếm tới 35% vật liệu phôi ban đầu), các nhà kỹ thuật lựa chọn nguyên công chồn, sau đó dập khối tạo lỗ không thấu. Màng ngăn lỗ sẽ được đột sau khi dập hoàn thiện chi tiết. Tuy nhiên, công nghệ này thường thêm nguyên công đột hoặc cần lực lớn trong nguyên công dập khối do phải tạo thêm lỗ không thấu.

Trong vòng 10 năm qua, cũng có nhiều đề xuất nghiên cứu công nghệ dập các chi tiết dạng rỗng này từ phôi ban đầu không phải là phôi đặc mà là phôi rỗng (phôi ống)[4]–[7], bởi nếu dập phôi rỗng sẽ tiết kiệm vật liệu lên tới 35%, năng lượng tạo hình cũng tiết kiệm được tương ứng tới 35%. Dập từ phôi rỗng cần có nguyên công chồn để phân bố lại kim loại, tạo ra các tiết diện lớn hơn cho phôi trung gian để phù hợp với nguyên công dập khối chính. Tuy nhiên, việc chồn phôi 8 luan an ống không đơn giản, khác hẳn với chồn phôi đặc bởi phôi ống rất dễ bị mất ổn định, đặc biệt ở trạng thái nóng. Việc tính toán công nghệ khó khăn, dễ tạo ra khuyết tật sau khi chồn làm giảm chất lượng sản phẩm cuối cùng.

Chính vì vậy, đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu cụ thể đưa ra công nghệ dập khối chi tiết truyền động dạng rỗng từ phôi ống và áp dụng thành công trong sản xuất công nghiệp. Điều khó khăn nhất trong công nghệ này là phải tính toán được chính xác nguyên công chồn để tạo sản phẩm trung gian phù hợp mà không bị các khuyết tật do mất ổn định khi chồn ống tạo ra.7 Chế tạo các chi tiết truyền động dạng rỗng bằng công nghệ dập khối từ phôi đặc 9 luan an 1.2 Nguyên công chồn trong công nghệ dập khối Sơ đồ nguyên công chồn được trình bày như hình dưới đây.8 Sơ đồ nguyên công chồn phôi đặc không có ma sát và có ma sát Chồn là một nguyên công công nghệ nhằm giảm chiều cao, tăng diện tích tiết diện ngang đồng thời nâng cao cơ tính của sản phẩm. Phôi chồn có thể ở dạng dải, tiết diện tròn hay các tiết diện vuông, chữ nhật hoặc ống [2],[8],[9]. Chồn được coi là một nguyên công tạo hình sơ bộ và được sử dụng phổ biến trong công nghệ dập khối.

Đối với một số sản phẩm như dạng bu lông, vít, chồn được xem là nguyên công chính và có khả năng tạo hình sản phẩm hoàn thiện. Chồn chủ yếu được thực hiện trong trạng thái biến dạng tự do với hai khuôn trên, dưới (búa, bệ đe) có dạng phẳng. Tuỳ vào trường hợp tạo hình phôi phù hợp với nguyên công dập khối, chồn có thể thực hiện trên khuôn có biên dạng định hình. Lực tạo hình, ứng suất trong phôi là nén, biến dạng của phôi là biến dạng khối, theo chiều cao là biến dạng nén và theo 2 phương ngang là biến dạng kéo.

Hình dạng của phôi sau khi chồn phôi hình trụ có thể là hình trụ (đồng dạng, biến dạng đồng đều) khi không có ma sát trên bề mặt tiếp xúc giữa phôi và khuôn. Trường hợp này khó xảy ra trong thực tế, kể cả trong trường hợp bôi trơn rất tốt thì cũng chỉ có thể giảm thiểu ảnh hưởng của ma sát tiếp xúc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu công nghệ dập khối chi tiết truyền động từ phôi ống" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và công nghệ dập khối, một phương pháp quan trọng trong sản xuất các chi tiết truyền động. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các kỹ thuật dập khối hiện đại mà còn chỉ ra những lợi ích về hiệu suất và chất lượng sản phẩm, giúp các kỹ sư và nhà sản xuất tối ưu hóa quy trình sản xuất của họ. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách công nghệ này có thể cải thiện năng suất và giảm thiểu lãng phí trong sản xuất.

Để mở rộng thêm kiến thức về các công nghệ và ứng dụng liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ công nghệ vật liệu chế tạo màng tio2 bằng phương pháp phun plasma, nơi nghiên cứu về công nghệ vật liệu tiên tiến. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu một số vấn đề về big data và ứng dụng trong phân tích kinh doanh luận văn thạc sĩ cũng có thể cung cấp những góc nhìn mới về việc ứng dụng công nghệ trong phân tích dữ liệu. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ kỹ thuật điều khiển và tự động hóa hệ thống định vị tích hợp thị giác lập thể quán tính và gps, một nghiên cứu liên quan đến công nghệ tự động hóa và định vị, có thể bổ sung cho kiến thức của bạn về các ứng dụng công nghệ trong sản xuất và điều khiển.