đặt vấn đề đảm bảo an ninh con ngƣời, quản trị an ninh con ngƣời nhƣ làm rõ các rủi ro, các ứng phó và phòng ngừa trong các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp. Riêng có đề tài của tác giả Lê Thị Trang đã đề cập đến vấn đề quản trị rủi ro nguồn nhân lực tại doanh nghiệp nơi tác giả công tác. Tuy nhiên vấn đề rủi ro nguồn nhân lực là vấn đề rộng, đặc biệt hoàn cảnh thực hiện đề tài và lĩnh vực kinh doanh tại công ty của tác giả có những điểm khác biệt. Trƣớc hết, là sự khác biệt về loại hình doanh nghiệp, HTX có những vấn đề đặc biệt hơn các doanh nghiệp khác, nhất là nằm ở yếu tố nhân sự.
Hầu hết nhân sự trong HTX là thành viên trong hợp tác xã, đóng góp sức lao động vào HTX. Thứ hai, ngàng kinh doanh của HTX vận tải Nam Anh chủ yếu là dịch vụ vận tải hành 8 Lê Thị Trang (2019), Công tác quản trị rủi ro nguồn nhân lực tại Công ty TNHH Văn Chung, Luận văn thạc sĩ Quản trị an ninh phi truyền thống, Khoa quản trị và kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội. 9 khách và một số dịch vụ phụ trợ. Trong giai đoạn chịu ảnh hƣởng của đại dịch Covid-19, HTX bị ảnh hƣởng rất nhiều bởi các yêu tố rủi ro từ nguy cơ sức khỏe của tài xế, của khách hàng, đến các quy định về thể chế chính sách liên quan đến phòng chống dịch nhƣ: quy định về giãn cách, quy định về giấy đi đƣờng, quy định về tiêm vắc xin và đảm bảo nguyên tắc 5K….
Có thể thấy, chỉ trong một thời gian ngắn mà HTX và các thành viên trong HTX phải đối diện với một nguy cơ an ninh phi truyền thống có tính tác động quá lớn. Do vậy, vấn đề quản trị rủi ro nhân sự của một hợp tác xã kinh doanh dịch vụ vận tại đặt trong bối cảnh chịu nhiều tác động của đại dịch Covid-19 là một vấn đề rất đáng bàn luận. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu lý luận về quản trị rủi ro nhân sự đe dọa an ninh sức khỏe và an ninh doanh nghiệp để đánh giá thực trạng an ninh con ngƣời và an ninh doanh nghiệp tại HTX vận tải Nam Anh. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác quản trị rủi ro nhân sự trong doanh nghiệp dựa trên các nguyên tắc, đối tƣợng và hình thức quản trị.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản trị rủi ro nhân sự tại HTX vận tải Nam Anh, trên cơ sở đó so sánh với lý luận thực tiễn và chỉ ra những bất cập tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong công tác quản trị rủi ro nhân sự tại HTX vận tải Nam Anh. - Đề xuất một số giải pháp nhằm quản trị rủi ro nhân sự tại HTX vận tải Nam Anh, từ đó có thể thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá và thực hiện công tác quản trị rủi ro nhân sự một cách có hiệu quả. Câu hỏi nghiên cứu Dựa vào mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả đặt ra các câu hỏi nghiên cứu sau: - Rủi ro nhân sự đƣợc hiểu nhƣ thế nào? Quản trị rủi ro nhân sự bao gồm những nội dung cơ bản nào? - Các rủi ro nhân sự mà HTX vận tải Nam Anh thƣởng gặp phải và đo lƣờng giá trị rủi ro nhƣ thế nào? 10 - Quy trình quản trị rủi ro nhân sự và phản ứng của HTX khi xảy ra rủi ro nhân sự là nhƣ thế nào? Kinh nghiệm thực tế và bài học rút ra từ thực tiễn quản lý tại HTX? 5. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích các nhóm rủi ro và công tác quản trị rủi ro nhân sự, cụ thể là xã viên, lái xe tại HTX vận tải Nam Anh để từ đó đánh giá công tác quản trị rủi ro nhân sự trong giai đoạn 2019 – 2021 và đề xuất giải pháp áp dụng trong giai đoạn 2022 – 2025.
Không gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu trên phạm vi HTX vận tải Nam Anh. Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng về quản trị rủi ro nhân sự tại HTX vận tải Nam Anh trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2021. Phƣơng pháp nghiên cứu Về phƣơng pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phƣơng pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để xử lý các dữ liệu cũng nhƣ các kết quả điều tra, phỏng vấn với cán bộ phòng kế toán, phỏng vấn các tài xế về hoạt động quản trị rủi ro nhân sự, đảm bảo an ninh con ngƣời. Để thực hiện hoạt động nghiên cứu, tác giả dự kiện kế hoạch điều tra khảo sát cụ thể nhƣ sau: - Đối tƣợng: tác giả sẽ gặp gỡ, phỏng vấn với ban lãnh đạo HTX, phỏng vấn các tài xế và nhân viên đang làm việc tại doanh nghiệp và phỏng vấn chuyên sâu cán bộ quản lý, ban giám đốc.
- Phƣơng pháp chọn mẫu: Do đặc điểm nghiên cứu của đề tài và căn cứ tình hình thực tế của HTX vận tải Nam Anh nên tác giả sử dụng phƣơng pháp điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên. Công tác điều tra đƣợc tiến hành ngẫu nhiên trên 100 cán bộ, nhân viên và tài xế đang làm việc tại HTX. Trong quá trình thực hiện đề tài này, tác giả tiến hành các bƣớc nhƣ sau: - Bƣớc 1: Thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhƣ: các văn bản – quy định của nhà nƣớc, của HTX có liên quan đến công tác quản trị rủi ro nguồn nhân lực, sách, báo, các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu khoa học để xây dựng cơ sở lý luận. 11 Thu thập số liệu thứ cấp: Tổng hợp từ các báo cáo thông kê, báo cáo tài chính, các bảng tổng kết hoạt động kinh doanh… qua các năm 2019, 2020 của HTX.
Bên cạnh đó, đề tài còn thu thập các thông tin thức cấp liên quan đến các vấn đề nghiên cứu từ sách báo, tạp chí, website, các nguồn thông tin mở khác… Thu thập số liệu sơ cấp: Để đánh giá đúng về rủi ro nguồn nhân lực tại HTX vận tải Nam Anh từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao hơn nữa công tác quản trị rủi ro, tác giả còn thu thập số liệu sơ cấp nhằm phát hiện đƣợc những rủi ro thực sự đang tồn tại tại HTX. Các số liệu sơ cấp đƣợc thu thập bằng việc thực hiện điều tra, khảo sát thông qua việc phát bảng câu hỏi đối với cán bộ, tài xế, nhân viên làm việc tại HTX, kết hợp với phƣơng pháp điều tra thu thập, tổng hợp ý kiến từ các cán bộ quản lý của HTX. - Bƣớc 2: Tiến hành gặp gỡ và trao đổi, phỏng vấn Ban giám đốc, tài xế và nhân viên làm việc tại HTX vận tải Nam Anh. Kết cấu của luận văn Ngoài phần giới thiệu nghiên cứu, lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu, hình vẽ, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc kết cầu gồm 03 chƣơng: - Chƣơng 1.
Cơ sở lý thuyết về an ninh con ngƣời và quản trị rủi ro nhân sự trong doanh nghiệp. Phƣơng pháp nghiên cứu và cơ sở dữ liệu - Chƣơng 3. Thực trạng quản trị rủi ro nhân sự đảm bảo an ninh con ngƣời tại Hợp tác xã vận tải Nam Anh giai đoạn 2019 – 2021. Một số giải pháp, kiến nghị nhằm quản trị rủi ro nhân sự đảm bảo an ninh con ngƣời tại Hợp tác xã vận tải Nam Anh.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ AN NINH CON NGƢỜI VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO NHÂN SỰ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về an ninh ninh con ngƣời và an ninh phi truyền thống 1. Khái niệm an ninh phi truyền thống An ninh là một khái niệm cơ bản thƣờng đƣợc sử dụng trong ngôn ngữ và thực tiễn chính trị. An ninh là nhu cầu đầu tiên và cơ bản nhất của mỗi con ngƣời, mỗi quốc gia và toàn thể nhân loại, đồng thời cũng là điều kiện cơ bản và quan trọng đảm bảo cho sự phát triển của mỗi quốc gia.
Do sự khác biệt về lịch sử chính trị, văn hoá cũng nhƣ cách nhìn, cách tiếp cận và quan niệm giá trị khác nhau của mỗi quốc gia mà khái niệm an ninh đƣợc hiểu, đƣợc định nghĩa theo nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, hiểu theo nghĩa chung nhất của ngôn ngữ chính trị quốc tế, an ninh là khái niệm dùng để chỉ trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm đe dọa sự tồn tại và phát triển bình thƣờng của cá nhân, của từng tổ chức, của từng lĩnh vực hoạt động xã hội hoặc của toàn xã hội. Cùng với tiến trình của lịch sử nhân loại, bên cạnh khái niệm an ninh đã hình thành nên khái niệm an ninh truyền thống (ANTT). Khái niệm an ninh truyền thống đã có từ thời chiến tranh lạnh, đồng nghĩa với khái niệm an ninh quốc gia.
Theo đó an ninh truyền thống có ý nghĩa là an ninh quốc gia theo cách hiểu lấy quốc gia hay nhà nƣớc làm trung tâm. An ninh quốc gia bao gồm các nội dung an ninh trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tƣ tƣởng – văn hoá, xã hội, quốc phòng, đối ngoại… và trật tự, an toàn xã hội trên tất cảnh vực đời sống xã hội; an ninh đối với những cơ sở quan trọng nhất của sự sinh tồn và phát triển của quốc gia. Luật An ninh quốc gia của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ sau thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004 khẳng định an ninh quốc gia chính là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. An ninh quốc gia có hai mặt cơ bản: Sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ và Nhà nƣớc; Sự bất khả 13 xâm phạm về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.
Hai yếu tố này có quan hệ cơ hữu với nhau, ảnh hƣởng, thậm chí quy định lẫn nhau; giải quyết mặt này sẽ tăng cƣờng, củng cố mặt kia và ngƣợc lại. Bảo vệ an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống lại mọi hoạt động xâm hại an ninh quốc gia; là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nƣớc các tổ chức xã hội và mọi công dân, trong đó công an nhân dân và quân đội nhân dân là những lực lƣợng nòng cốt.