CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1.1 Lý luận chung về bảo hiểm 1.1 Khái niệm và phân loại bảo hiểm 1.1 Khái niệm Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu xã hội, pháp lý, kinh tế, kĩ thuật, nghiệp vụ. Theo Dennis Kessler: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít. Theo Monique Gaullier : Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê.
Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm. Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000): Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Khái niệm về công ty bảo hiểm: Công ty bảo hiểm hay doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy đinh khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 bảo hiểm, tái bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm là một loại hình doanh nghiệp dịch vụ, hoạt động của nó cũng nhằm mục đích sinh lời.2 Phân loại bảo hiểm thương mại a.
Khái niệm bảo hiểm thương mại: Bảo hiểm thương mại hay hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện bởi các tổ chức kinh doanh bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm thương mại. Bảo hiểm thương mại chỉ những hoạt động mà ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro trên cơ sở người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đã thỏa thuận trước trên hợp đồng. Phân loại bảo hiểm thương mại: - Phân loại theo đối tượng bảo hiểm: (1) Bảo hiểm tài sản: Là loại bảo hiểm lấy tài sản làm đối tượng bảo hiểm. Khi xảy ra rủi ro tổn thất về tài sản như mất mát, hủy hoại về vật chất, người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm căn cứ vào giá trị thiệt hại thực tế và mức độ đảm bảo đã thỏa thuận trên hợp đồng.
(2) Bảo hiểm con người: Đối tượng của loại hình này chính là tính mạng, thân thể, sức khỏe con người. Bên mua bảo hiểm tiến hành giao kết hợp đồng bảo hiểm, nộp phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn nếu như rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng tính mạng, sức khỏe của người được bảo hiểm thì họ hoặc người hưởng thụ khác sẽ nhận được khoản tiền do công ty bảo hiểm chi trả; (3) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm phát sinh do ràng buộc của Pháp luật dân sự, theo đó người được bảo hiểm phải bồi thường bằng tiền cho người thứ ba những thiệt hại gây ra do hành vi của mình hoặc do sự vận hành, hoạt động của tài sản thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu, sử dụng của chính mình. - Phân loại theo kỹ thuật bảo hiểm: (1) Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật phân bổ: Là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất ổng định theo thời gian và thường độc lập với LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 tuổi thọ con người nên gọi là bảo hiểm phi nhân thọ. Hợp đồng bảo hiểm loại này thường là ngắn hạn (một năm); (2) Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật dồn tích vốn: Là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất thay đổi theo thời gian và đối tượng này thường gắn liền với tuổi thọ con người nên gọi là bảo hiểm nhân thọ.
Các hợp đồng loại này thường là trung và dài hạn (10 năm, 20 năm, trọn đời,…). - Phân loại theo phương thức quản lý: (1) Bảo hiểm tự nguyện: Là những loại bảo hiểm mà hợp đồng được giao kết dựa hoàn toàn trên sự cân nhắc và nhận thức của bên mua bảo hiểm, đây là tính chất vốn có của bảo hiểm thương mại khi nó có vai trò như là một hoạt động dịch vụ cho sản xuất và sinh hoạt của con người. (2) Bảo hiểm bắt buộc: Được hình thành trên cơ sở luật định nhằm bảo vệ lợi ích của các nạn nhân trong các vụ tổn thất và bảo vệ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Các hoạt động nguy hiểm có thể dẫn đến tổn thất con người và tài chính trầm trọng gắn liền với trách nhiệm dân sự ( trách nhiệm nghề nghiệp, trách nhiệm sản phẩm…) thường là đối tượng bảo hiểm của sự bắt buộc này.
- Phân loại theo quy định hiện hành: bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm: (1) Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người; (2) Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; (3) Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường không; (4) Bảo hiểm hàng không; (5) Bảo hiểm xe cơ giới; (6) Bảo hiểm cháy, nổ; (7) Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu; (8) Bảo hiểm trách nhiệm chung; (9) Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; (10) Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; (11) Bảo hiểm nông nghiệp; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 (12) Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do Chính phủ quy định.2 Các nguyên tắc hoạt động Bảo hiểm 1.1 Nguyên tắc số đông Qui luật số đông được các nhà toán học châu Âu phát triển vào thế kỷ XVII, và đây là quy luật cơ bản nhất của hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Hoạt động bảo hiểm nói chung, hoạt động bảo hiểm thương mại nói riêng tạo ra được một "sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít" trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất. Số người tham gia càng đông, tổn thất càng phân tán mỏng, rủi ro càng giảm thiểu ở mức độ thấp nhất thể hiện ở mức phí bảo hiểm phải đóng là nhỏ nhất đủ để mỗi người đó không ảnh hưởng gì quan trọng đến hoạt động sinh hoạt sản xuất của mình. Hoạt động theo quy luật số đông, đó là nguyên tắc cơ bản nhất của bảo hiểm.2 Nguyên tắc trung thực Bên cạnh đó, đám đông tham gia vào cộng đồng càng lớn thể hiện nhu cầu bảo hiểm càng tăng theo đà phát triển của nền kinh tế - xã hội, những người được bảo hiểm không thể và cũng không cần biết nhau, họ chỉ biết người quản lý cộng đồng (doanh nghiệp bảo hiểm) là người nhận phí bảo hiểm và cam kết sẽ bồi thường cho họ khi có rủi ro tổn thất xẩy ra.
Hoạt động bảo hiểm thương mại tạo ra được một sự hoán chuyển rủi ro từ những người được bảo hiểm qua người bảo hiểm trên cơ sở một văn bản pháp lý: Hợp đồng bảo hiểm. Điều này đã tạo ra một rủi ro mới đe dọa mối quan hệ giữa 2 bên trên hợp đồng. Dịch vụ bảo hiểm thương mại là một lời cam kết, liệu lúc xảy ra tổn thất, doanh nghiệp bảo hiểm có thực hiện hoặc có khả năng thực hiện cam kết của mình hay không trong khi phí bảo hiểm đã được trả theo "nguyên tắc ứng trước". Ngược lại các rủi ro, tổn thất được bảo hiểm được minh thị rõ ràng trên hợp đồng, liệu có sự man trá của phía người được bảo hiểm hay không để nhận hưởng tiền bảo hiểm.
Như vậy, mối quan hệ giữa 2 bên trên hợp đồng bảo hiểm gắn liền với sự tin LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tưởng lẫn nhau và điều này đòi hỏi phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản thứ hai: Nguyên tắc trung thực.3 Nội dung và đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty BH Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy mọi hoạt động đều mang đặc trưng kinh doanh, lấy lợi nhuận làm mục tiêu phấn đấu. Để đạt được mục tiêu đó thì hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tính đến những đặc điểm sau: - Đối tượng kinh doanh đa dạng Bảo hiểm thương mại có đối tượng kinh doanh đa dạng là tài sản, trách nhiệm dân sự và con người. Với đối tượng bảo hiểm đa dạng như vậy thì quy luật số đông trong kinh doanh bảo hiểm sẽ phát huy tác dụng, do đó mực đích lợi nhuận sẽ đạt được.
- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn có vốn pháp định lớn - Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn phải có dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm: công ty bảo hiểm phải trích lập DPNV từ phí bảo hiểm của từng nghiệp vụ đối với phần trách nhiệm giữ lại của công ty bảo hiểm. - Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn gắn kết với hoạt động đầu tư: hoạt động đầu tư là một bộ phận trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nó vừa góp phần phát triển quỹ tài chính, tạo điều kiện mở rộng quy mô của công ty bảo hiểm. - Các công ty bảo hiểm hoạt động kinh doanh phải tuân thủ các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm, các quy định khác của Pháp luật có liên quan.2 Lý luận chung về khả năng thanh toán tại công ty bảo hiểm 1.1 Khả năng thanh toán tại công ty bảo hiểm: Khả năng thanh toán là một chỉ tiêu tài chính quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế. Khả năng thanh toán theo nghĩa chung là khả năng công ty đáp ứng ngay các nghĩa vụ tài chính phát sinh.
Đối với các công ty bảo hiểm thì khả năng thanh toán LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.