CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC HỆ THỐNG ĐÊ BIỂN Ở NƯỚC TA 1. Tổng quan về hệ thống đê biển 1. Đê biển và vai trò của hệ thống đê biển Đê là công trình ngăn nước lũ của sông hoặc ngăn nước biển, được cơ quan có thẩm quyền phân loại, phân cấp theo quy định của pháp luật [24]. Đê tồn tại ở dạng tự nhiên hoặc nhân tạo.
Đối với bảo vệ bờ biển, người ta thường thiết kế công trình cứng hóa để ngăn xói lở, xâm nhập mặn và góp phần ứng phó với tình hình biến đổi khí hậu trong bối cảnh hiện nay. Từ xa xưa, người ta đã coi đê biển như một giải pháp hữu hiệu cho việc chống lại các tác hại do thủy triều, gió bão, ngập lụt đến từ phía biển. Không chỉ có vậy, việc quai đê lấn biển để mở rộng thêm đất đai cũng đã thực hiện ở nhiều địa phương, nhiều thời kỳ. Ở các thời kỳ về sau, khi mà với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã tiến thêm nhiều bước, Vai trò đê biển không chỉ đơn thuần là bảo vệ bờ, ngăn triều, chống xói lở, xâm nhập mặn, ngập lụt mà còn được lợi dụng tổng hợp đa mục tiêu như tạo hồ nước ngọt dự trữ để phục vụ cho nông nghiệp, thủy sản; hình thành các khu đô thị, khu kinh tế; cảng biển mới; tạo trục giao thông kết nối các vùng, các khu kinh tế; phát triển du lịch; xây dựng các nhà máy điện thủy triều;nhà máy điện gió.
Những tuyến đê biển có quy mô lớn với nhiều chức năng, nhiệm vụ tổng hợp, đặc biệt đã và đang xây dựng tại nhiều nước trên thế giới như tại Hà Lan, Hàn Quốc, Nga, Mỹ, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.họ đã nghiên cứu theo hướng giải pháp kết cấu, chức năng và điều kiện làm việc của đê biển để xem xét một cách chỉnh thể hơn theo quan điểm hệ thống, lợi dụng tổng hợp, bền vững và hài hòa với môi trường. Các giải pháp giảm sóng, tạo bãi để trồng 6 rừng ngập mặn cũng được nghiên cứu xem xét nhằm xây dựng một hệ thống công trình đê biển an toàn cao hài hòa với môi trường sinh thái [33].1: Đê biển chịu sóng tràn và biển chịu sóng tràn Hình 1.2: Mô hình đê biển lợi dụng tổng hợp và thân thiện với môi trường sinh thái của Hà Lan Hình 1.3: Dạng mặt cắt an toàn cao trước và sau khi xây dựng ở Nhật Bản (Stalenberg, 2007) 7 Hình 1.4: “Siêu đê" tại Tokyo, Osaka, Nhật Bản (Nguồn: Internet) Hình 1.5: Đê biển Afsluitdijk – Hà Lan (Nguồn: Internet) 8 Hình 1.6: Đê biển Saemandeum – Hàn Quốc (Nguồn: Internet) Như vậy có thể thấy rằng trong những năm gần đây phương pháp luận thiết kế và xây dựng đê biển trên thế giới đã có nhiều chuyển biến rõ rệt. Hệ thống đê biển đang được xây dựng theo xu thế chống đỡ với tải trọng một cách mềm dẻo và linh động hơn, do đó đem lại sự an toàn, bền vững và thân thiện hơn với môi trường, và đặc biệt là có thể lợi dụng tổng hợp. Vài nét khái quát về hiện trạng hệ thống đê biển nước ta Việt Nam là quốc gia có vùng biển rộng, khoảng 1 triệu km2 và đường bờ biển rất dài, khoảng 3.
Có 29 tỉnh và thành phố tiếp giáp với biển, vùng ven biển. Với sự phát triển của một quốc gia, một dân tộc, đê biển Việt Nam được hình thành khá sớm (sau khi đó hình thành hệ thống đê sông), đặc biệt được chú trọng và phát triển mạnh nhất là thời kỳ quai đê lấn biển của Nguyễn Công Trứ. Từ đó hệ thống đê biển của ta ngày càng được phát triển lên (bồi trúc, tôn cao), các tuyến đê biển mới, cứ sau vài chục năm lại được hình thành ở những vùng bồi tụ. 9 Hiện nay dọc ven biển Việt Nam đã có hệ thống đê biển với các quy mô khác nhau được hình thành qua nhiều thế hệ, bảo vệ cho sản xuất, dân sinh kinh tế của các vùng trũng ven biển.
Đây là một nguồn tài sản lớn của đất nước, nếu được tu bổ, nâng cấp phù hợp thì hệ thống đê biển sẽ là cơ sở vững chắc tạo đà phát triển kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đai hoá dất nước, ngược lại nếu không được đầu tư bảo vệ, củng cố nâng cấp thì nguồn tài sản này có có thể bị mai một, giảm hiệu quả của các tuyến đê biển. Hệ thống đê sông, đê biển hiện nay chỉ mới có thể đảm bảo an toàn ở mức độ nhất định tuỳ theo tầm quan trọng về dân sinh, kinh tế từng khu vực được bảo vệ, một số tuyến đê đã được đầu tư khôi phục, nâng cấp thông qua các đề tài PAM và các đề tài hỗ trợ của ADB có thể chống với gió bão cấp 9 và mức nước triều tần suất 5%, nhiều tuyến chưa được tu bổ, nâng cấp chỉ có thể đảm bảo an toàn với gió bão cấp 8. Mặt khác, do điều kiện kinh tế việc đầu tư chưa được tập trung đồng bộ, kiên cố, lại chịu tác động thường xuyên của mưa bão nên hệ thống đê, kè biển vẫn tiếp tục bị xuống cấp như đê biển tại các tỉnh miền Trung, Nam Định, Hải Phòng, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, đặc biệt đê biển Giao Thuỷ, Hải Hậu thuộc tỉnh Nam Định, Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa. Nhiều đoạn đê biển có thể bị hư hỏng, phá vỡ hàng loạt nếu không được đầu tư bảo vệ, củng cố kịp thời.
Nhìn chung hệ thống đê biển nước ta đa phần được hình thành từ rất lâu, vật liệu sử dụng đắp đê chủ yếu bằng cát được bọc đất bên ngoài, cao trình đê thấp, mặt cắt đê nhỏ. Một số tuyến đê đã được nhà nước ta quan tâm đầu tư thông qua một số dự án như PAM 4617, OXFAM, EC, ADB,. và các chương trỉnh đê biển quốc gia, tuy nhiên mới chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ yêu cầu cải tạo, nâng cấp các tuyến đê biển. Các tuyến đề này được mở rộng mặt cắt, mặt đê được bê tông hóa, mái đê được gia cố bằng các tấm lát bê tông đúc sẵn, đá, cấu kiện bê tông đúc sẵn,.
Nhìn chung toàn bộ hệ thống đê biển nước ta về cơ bản chưa đáp ứng được nhu cầu bảo vệ sản xuất, dân sinh kinh tế các vùng sau đê; các đoạn đê được nâng cấp nhưng vẫn chưa đảm bảo yêu cầu thiết kế; các tuyến 10 đê chưa được nâng cấp thường xuyên sạt lở đặc biệt vào mùa mưa bão. Cụ thể như sau: - Bờ biển Bắc Bộ: Chiều dài đê biển khoảng 720 km, bao gồm các tỉnh thành phố ven biển từ Thanh Hóa trở ra. Nhiều đoạn đê biển thuộc các Hải phòng, Nam Định, Thái Bình, đê bằng đất nên thường xuyên xảy ra sạt lở rất nghiêm trọng, tốc độ xói lở tới 15-21m/năm, đặc biệt có nơi như ở Hải Thịnh- Nam Định, tốc độ xói lở lên đến 40-50m/năm [11]. Một số đoạn đê biển xung yếu trên hệ thống đê biển Bắc Bộ đã được sự quan tâm đầu tư của nhà nước.7: Đê biển Nghĩa Hưng – Nam Định (Nguồn: Tác giả) Hình 1.8: Mỏ hàn chắn sóng dọc bờ biển Thái Bình (Nguồn: Tác giả) 11 - Bờ biển miền Trung: Chiều dài đê biển khoảng 1.410 km, bao gồm các tỉnh từ Thanh Hóa đến Bình Thuận.
Nhìn chung nhiều tuyến đê cũng đang trong tình trạng báo động, thường xuyên bị sạt lở nghiêm trọng, cần được đầu tư nâng cấp để đủ khả năng chống lại những tác động từ biển cả. Đây cũng là vùng biển hứng chịu nhiều thiên tai bão lũ nhất cả nước, tuy vây đến nay cũng mới chỉ một phần nhỏ các tuyến đê biển được đầu tư nâng cấp.9: Đê biển huyện Hậu Lộc – Thanh Hóa (Nguồn: Tác giả) Hình 1.10: Đê biển xã Hải Dương – Thừa Thiên Huế (Nguồn: Tác giả) 12 Hình 1.11: Đê biển xã Quảng Công – Thừa Thiên Huế (Nguồn: Tác giả) - Bờ biển phía Nam: Chiều dài tuyến đê biển khoảng 630 km, đây là vùng có cao trình đê biển tương đối thấp vì vậy thường xuyên chịu ảnh hưởng của hiện tường thủy triều. Các vùng biển đất mũi Cà Mau là nơi chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai nhất cả nước. Sóng biển xoáy sâu vào thân đê, gây sạt lở nghiêm trọng, đe dọa đến đời sống của hàng chục ngàn hộ dân.12: Một đoạn đê biển huyện Hòn Đất – Kiên Giang (Nguồn: Tác giả) 13 Hình 1.
Một đoạn đê biển Tây – Cà Mau (Nguồn: Internet) Ngày nay sự phát triển kinh tế xã hội không bền vững đã gây nên những biến động lớn về môi trường, khí hậu toàn cầu biến đổi rõ nét, thiên tai dịch bệnh xuất hiện với tần suất va cường độ ngày càng gia tăng. Đặc biệt hiện tượng nước biển dâng đe dọa trực tiết đến sự sống của nhân loại. Trước những hiểm họa khôn lường đến từ biển cả, một vấn đề cấp thiết cần phải đặt ra đó là phải có một tuyến đê biển vững chắc hơn, hiện đại hơn, đáp ứng được kỳ vọng bảo vệ sự sống con người trước những hiểm họa đó. Hiện nay khao học kỹ thuật đã nghiên cứu và ứng dụng nhiều phương pháp để củng cố những tuyến đê biển như: - Đê biển dạng truyển thống mái nghiêng - Đê biển có kết cấu tường đứng - Đê biển có kết cấu dạng xà lan, thùng chìm,.
Trong các dạng đê biển trên, đê biển dạng mái nghiêng thường được áp dụng nhiều nhất với nhiều ưu điểm và nhiều phương pháp gia cố mái được nghiên cứu như: đá lát khan, mảng bê tông, cấu kiện bê tông láp ghép tự chèn; nhựa đường; thảm bê tông; thảm đá; thảm bằng các túi địa kỹ thuật chứa cát; hệ thống ống địa kỹ thuật chưa cát;. Việc áp dụng hình thức, kết cấu đê biển nào cần phải được tính toán kỹ lượng phù hợp với yêu cầu kinh tế kỹ thuật đặt ra cho dự án. Tình hình đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống đê biển ở nước ta 1. Tình hình quy hoạch và đầu tư xây dựng hệ thống đê biển Biến đổi khí hậu đang hàng ngày tác động bất lợi đến nước ta, nặng nề nhất là Đồng bằng sông Cửu Long, vùng trọng điểm an ninh lương thực quốc gia.
Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành Chiến lược Quốc gia về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai [12], đặc biệt chú trọng đến các chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Việc quy hoạch, cung cố, nâng cấp hệ thống đê biển trên cả nước được Chính phủ ưu tiên bố trí ngân sách để những tuyến đê này phát huy tối đa tác dụng bảo vệ sản xuất nông nghiệp, đời sống nhân dân, bảo vệ chủ quyền đất nước.