CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1.1 Tổng quan về dự án và quản lý dự án 1.1 Khái niệm về dự án và quản lý dự án đầu tư xây dựng Theo Luật xây dựng 2014:“ Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định”. Theo Ngân hàng thế giới: “Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định” Theo Viện Nghiên cứu Quản lý dự án Quốc tế (PMI): “Dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự ràng buộc về yêu cầu và nguồn vật chất đã định. Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ”. Như vậy có nhiều cách hiểu khác nhau về dự án, nhưng các dự án có nhiều đặc điểm chung như: - Các dự án đều được thực hiện bởi con người; - Bị ràng buộc bởi các nguồn lực: con người, tài nguyên; - Được hoạch định, được thực hiện và được kiểm soát.
Như vậy có thể biểu diễn dự án bằng công thức sau: DỰ ÁN = KẾ HOẠCH + CHI PHÍ + THỜI GIAN SẢN PHẨM DUY NHẤT (Vật chất, tinh thần, dịch vụ) Có thể hiểu dự án xây dựng bao gồm hai nội dung là hoạt động đầu tư và hoạt động xây dựng. Nhưng do đặc điểm của các dự án xây dựng bao giờ cũng yêu cầu có một diện tích nhất định, ở một địa điểm nhất định (bao gồm đất, khoảng không, mặt nước, mặt biển và thềm lục địa) do đó có thể biểu diễn dự án xây dựng như Hình 1.1: 6 Dự án xây dựng Kế hoạch Tiền Thời gian Đất Công trình xây dựng Hình 1.1 Các yếu tố cấu thành nên dự án xây dựng Dựa vào Hình 1.1 có thể thấy đặc điểm một dự án xây dựng bao gồm các vấn đề sau: Kế hoạch: Tính kế hoạch được thể hiện rõ qua các mục đích được xác định, các mục đích này phải được cụ thể hóa thành các mục tiêu và dự án chỉ hoàn thành khi các mục tiêu cụ thể đã đạt được. Tiền: Đó chính là sự bỏ vốn để xây dựng công trình; Nếu coi phần “kế hoạch của dự án” là phần tinh thần, thì “tiền” được coi là phần vật chất có tính quyết định sự thành công của dự án. Thời gian: Thời gian rất cần thiết để thực hiện dự án, nhưng thời gian còn đồng nghĩa với cơ hội của dự án.
Đây cũng là một đặc điểm rất quan trọng cần được quan tâm. Đất: Đất cũng là một yếu tố vật chất hết sức quan trọng. Đây là một tài nguyên đặc biệt quý hiếm. Đất ngoài các giá trị về địa chất, còn có giá trị về vị trí, địa lý, kinh tế, môi trường, xã hội… Vì vậy, quy hoạch, khai thác và sử dụng đất cho các dự án xây dựng có những yêu cầu riêng, cần hết sức lưu ý khi thực hiện.
Quản lý dự án đầu tư xây dựng là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được phê duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép, Hay nói cách khác: Quản lý dự án là một quá trình hoạch định (Planning), tổ chức (Organizing), lãnh đạo (Leading/Directing) và kiểm tra (Controlling) các công việc và 7 nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu đã định.2 Năm quá trình của một dự án xây dựng đơn giản 1.2 Vai trò của quản lý dự án đầu tư xây dựng Quản lý dự án giúp chủ đầu tư hoạch định, theo dõi và kiểm soát tất cả những khía cạnh của dự án và khuyến thích mọi thành phần tham gia vào dự án đó nhằm đạt được những mục tiêu của dự án đúng thời hạn với chi phí, chất lượng và thời gian như mong muốn ban đầu. Kết quả cuối cùng cần đạt được (chất lượng của dự án): Mỗi một dự án thường đặt ra một hay nhiều mục tiêu cần đạt được (mục tiêu kỹ thuật công nghệ, mục tiêu kinh tế tài chính, mục tiêu kinh tế xã hội, quốc phòng…) nhưng chất lượng cuối cùng mới là quan trọng nhất. Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng Quản lý dự án đầu tư xây dựng xoay quanh 3 nội dung chủ yếu là (1) lập kế hoạch, (2) Tổ chức phối hợp thực hiện mà chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí thực hiện và (3) giám sát các công việc dự án nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Chi tiết hơn, quản lý dự án đầu tư xây dựng gồm có các nội dung chính như sau: - Quản lý phạm vi dự án đầu tư xây dựng - Quản lý thời gian dự án đầu tư xây dựng - Quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng - Quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng - Quản lý nguồn nhân lực đầu tư xây dựng - Quản lý việc trao đổi thông tin dự án đầu tư xây dựng 8 - Quản lý rủi ro trong dự án đầu tư xây dựng - Quản lý mua bán dự án đầu tư xây dựng - Quản lý giao nhận dự án đầu tư xây dựng 1.3 Tình hình quản lý dự án đầu tư xây dựng ở Việt Nam 1.1 Quản lý nhà nước trong hoạt động xây dựng Các hoạt động xây dựng hiện nay trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân thủ theo hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được quy định cụ thể trong các điều luật và nghị định như sau: Luật Xây dựng: Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 có hiệu lực thi hành vào ngày 01/1/2015 thay thế Luật Xây dựng số 16/2003/QH13 được xây dựng trong thời kỳ nền kinh tế còn lạc hậu nên hiện nay một số nội dung của luật không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường và hội nhập Quốc tế.
Luật Xây dựng 2014 quy định nhiều điều khoản mới như: quy định vai trò và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, điều chỉnh hoạt động đầu tư xây dựng, tăng cường kiểm soát, quản lý chất lượng xây dựng, đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về chi phí đầu tư xây dựng. Luật Đấu thầu: Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 có hiệu lực thi hành vào ngày 1/7/2014 thay thế Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 vốn bộc lộ một số bất cập làm nảy sinh tiêu cực trong quá trình đấu thầu và lựa chọn nhà thầu, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công trình xây dựng. Luật đấu thầu 43 có nhiều thay đổi như: tạo cơ hội cho các nhà thầu cạnh tranh, quy trình lựa chọn nhà thầu cụ thể hơn, có nhiều phương pháp đánh giá, phân cấp trách nhiệm rõ ràng, quy định hành vi cấm và xử phạt theo hướng chặt chẽ hơn. Luật Đầu tư công: Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 có hiệu lực thi hành vào ngày 1/1/2015.
Đây là Luật mới làm thay đổi tư duy quản lý và xây dựng kế hoạch đầu tư công. Cụ thể đó là 9 những thay đổi trong quy định thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, điều kiện và trình tự thủ tục quyết định chủ trương đầu tư; phân cấp thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn của chương trình, dự án đầu tư công. Việc pháp luật hóa chủ trương đầu tư góp phần khắc phục tình trạng tùy tiện, đơn giản và ngăn chặn ngay từ đầu những thất thoát, lãng phí trong đầu tư công. Nghị định 59/2015/NĐ-CP: Nghị định 59/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành vào ngày 5/8/2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình thay thế Nghị định số12/2009/NĐ-CP trước đây phân cấp mạnh về thẩm quyền quyết định đầu tư cho cấp huyện, xã thì việc quản lý và giám sát lại thiếu chặt chẽ.
Mặt khác, sau khi phân bổ vốn, Chủ đầu tư có quyền thực hiện các công đoạn chuẩn bị đầu tư, phê duyệt dự án, bản vẽ, phê duyệt đấu thầu, mời thầu nên thường xảy ra tình trạng thông đồng để đấu thầu thành công. Nội dung Nghị định 59 quy định: Lập, thẩm định, phê duyệt dự án; thực hiện dự án; kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng; hình thức và nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng. Quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước, của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến thực hiện các hoạt động đầu tư xây dựng của dự án. Nghị định 37/2015/NĐ-CP: Nghị định số 37/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành vào ngày 15/6/2015 quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng thay thế cho Nghị định số 48/2010/NĐ-CP về hoạt động xây dựng trước đây vốn có nhiều nội dung chưa phù hợp như việc chỉ áp dụng đối với các hợp đồng thuộc dự án sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên; quy định giá hợp đồng trọn gói không được điều chỉnh gây khó khăn cho quá trình thực hiện; quy định về việc điều chỉnh giá hợp đồng theo đơn giá cố định và theo thời gian còn chưa phù hợp; quá trình thực hiện các loại hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh việc kiểm tra, xác định giá vật tư, nguyên, nhiên vật liệu theo giá thị trường gặp nhiều khó khăn.
Nghị định 32/2015/NĐ-CP: Nghị định 32/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành ngày 10/5/2015 thay thế Nghị định số 112/2009/NĐ-CP về quản lý chí phí đầu tư xây dựng công trình là hợp lý với tình hình của ngành xây dựng hiện tại. Một số nội dung mới, có tính thay đổi về cách làm dự 10 toán như thêm dự toán gói thầu, thêm chi phí hạng mục chung, một số điều kiện để điều chỉnh tổng mức đầu tư. Một số điểm ảnh hưởng trực tiếp đến việc tính dự toán như: Bỏ chi phí trực tiếp phí khác và chi phí lán trại trong bảng tổng hợp dự toán (đưa vào phần chi phí hạng mục chung). Thêm phần chi phí hạng mục chung, bao gồm: chi phí lán trại, chi phí di chuyển thiết bị và nhân công đến và đi, chi phí an toàn lao động, chi phí thí nghiệm vật liệu.