ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên rừng có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng đối với đời sống con ngƣời. Ngoài việc cung cấp các sản phẩm phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội, rừng còn giữ một chức năng quan trọng khác đó là khôi phục môi trƣờng sinh thái, giảm nhẹ thiên tai và biến đổi khí hậu, bảo vệ nguồn nƣớc và cải tạo đất. Trong những năm qua diện tích rừng phòng hộ cả nƣớc đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lƣợng lẫn chất lƣợng rừng, làm ảnh hƣởng tới chức năng phòng hộ môi trƣờng và tính đa dạng sinh học của rừng. Một phần nguyên nhân dẫn đến việc rừng phòng hộ bị tàn phá nhƣ vậy là do công tác quản lý rừng vẫn còn nhiều hạn chế.
Do đó việc quản lý, bảo vệ, khôi phục lại và phát triển tài nguyên rừng, phấn đấu hạn chế và tiến tới chấm dứt nạn phá rừng, nâng cao độ che phủ của rừng là mục tiêu của Đảng và Nhà nƣớc trong thời kỳ đổi mới. Ban quản lý rừng Phòng hộ Tân Phú nằm trên địa bàn của hai xã Gia Canh và Phú Ngọc huyện Định Quán tỉnh Đồng Nai với tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp 13. Đây chính là khu vực rừng phòng hộ xung yếu đầu nguồn của hồ thủy điện Trị An, có vị trí vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp, điều tiết nguồn nƣớc và phòng hộ bảo vệ môi trƣờng trong khu vực. Hiện nay, trong lâm phận và khu vực giáp ranh với rừng do Ban QLRPH Tân Phú quản lý có rất nhiều hộ dân sinh sống.
Với đặc điểm trình độ dân trí, sự hiểu biết về pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng còn nhiều hạn chế và canh tác nông lâm nghiệp là chính nên nguy cơ bị tác động và áp lực đối với rừng, đất rừng là rất lớn. Nhằm từng bƣớc giải quyết những mâu thuẫn, áp lực và các vần đề nêu trên; để có sự đánh giá và cái nhìn tổng quan về hiện trạng rừng, đất lâm nghiệp cũng nhƣ điều kiện cơ sở hạ tầng thiết bị của Ban QLRPH Tân Phú làm cơ sở xác định, đề xuất xây dựng các công trình bổ sung, các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm bảo vệ, khôi phục, phát triển và nâng cao chất lƣợng rừng, duy trì ổn định diện tích rừng hiện có, nâng cao độ che phủ, duy trì chức năng phòng hộ của rừng một cách ổn định bền vững thì việc Nghiên cứu định hướng nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển lâm nghiệp tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Tân Phú tỉnh Đồng Nai là cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học Quản lý bảo vệ rừng là một lĩnh vực tƣơng đối rộng lớn bao gồm hàng loạt các biện pháp quản lý bảo vệ rừng khác nhau nhƣ quản lý bảo vệ bằng hệ thống các Luật, chính sách, các Nghị định nhƣ giao đất, giao rừng, phòng chống lửa rừng.
Trƣớc đây vấn đề quản lý, sử dụng rừng và đất rừng chỉ đơn thuần là việc khai thác các sản phẩm của rừng mà ít hoặc chƣa chú trọng tới việc bảo vệ, tái tạo và phát triển vốn rừng cũng nhƣ việc phát huy vai trò của rừng trong việc bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Hiện nay, vấn đề quản lý sử dụng rừng đều phải dựa trên cơ sở đảm bảo sự phát triển bền vững. Quản lý rừng bền vững là thực hiện triệt để và đồng bộ các biện pháp nhằm không ngừng phát huy hiệu quả kinh doanh, ổn định liên tục những tác dụng và lợi ích của rừng trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Sự phát triển bền vững này phải đảm bảo 3 yếu tố sau: Bền vững về mặt môi trƣờng sinh thái: Quản lý bảo vệ phải duy trì hệ thống sinh vật, bảo vệ phát triển đa dạng sinh học và tính ổn định của hệ sinh thái.
Bền vững về mặt xã hội: Thu hút lao động vào nghề rừng, tạo công ăn việc làm ổn định cho ngƣời lao động. Đáp ứng đƣợc nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng của thế hệ hiện tại đồng thời không làm ảnh hƣởng đến lợi ích của thế hệ mai sau. Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng phải cho hiệu quả kinh tế cao, năng xuất chất lƣợng ổn định đồng thời phải đƣợc thị trƣờng chấp nhận. Nghĩa là phát triển phải đảm bảo lợi ích lâu dài cho con ngƣời, tài nguyên sinh vật, môi trƣờng cần phải giữ gìn cho các thế hệ sau, thể hiện ba mặt đó là phù hợp về môi trƣờng, có lợi ích về mặt xã hội đáp ứng về mặt kinh tế.
Lê Sỹ Trung, 2008). Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 1. Tình hình quản lý bảo vệ rừng trên thế giới Theo số liệu thống kê của tổ chức FAO đầu thế kỷ XX diện tích rừng trên thế giới chỉ còn 6 tỷ ha, đến năm 1991, con số này giảm xuống còn 3,717 tỷ ha trên toàn thế giới và đến năm 1995 diện tích rừng trên toàn thế giới chỉ còn 2,3 tỷ ha. 3 Tính trung bình mỗi năm diện tích rừng nhiệt đới bị thu hẹp khoảng 11 triệu ha.
Theo các số liệu thống kê gần đây nhất của các nhà nghiên cứu, trong giai đoạn từ năm 2000 - 2012, khoảng 2,3 triệu km2 diện tích rừng bị biến mất. Trong khi đó, chỉ có 0,8 triệu km2 rừng đƣợc phủ xanh. Trung bình mỗi năm, diện tích rừng nhiệt đới bị mất trên toàn cầu tăng khoảng 2,100 km2. Tốc độ thay đổi mật độ rừng ở các khu rừng phía đông nam nƣớc Mỹ cao gấp 4 lần so với các khu rừng ở Nam Mỹ, với hơn 31% diện tích rừng bị mất hoặc đƣợc tái sinh.
Paraguay (Nam Mỹ), Malaysia và Campuchia (Đông Nam Á) là các quốc gia có tỷ lệ mất rừng cao nhất thế giới. Trong khi đó diện tích rừng trồng chỉ bằng 1/10 diện tích rừng bị mất đi, đó là chƣa kể đến việc mất tính đa dạng sinh học. Qua thống kê cho thấy 30% diện tích rừng đƣợc sử dụng để sản xuất gỗ và các sản phẩm phi gỗ, thƣơng mại lâm sản ƣớc tính đạt 327 tỷ USD/năm. Sự biến mất hoặc tái sinh các khu rừng có ảnh hƣởng nhất định đến hệ sinh thái cũng nhƣ sự thay đổi của khí hậu toàn cầu và gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với con ngƣời [12].
Sự gia tăng dân số gây sức ép lớn đối với tài nguyên rừng, phƣơng thức quản lý rừng theo hƣớng tiếp cận đơn mục đích đã không còn phù hợp. Ngày nay các nƣớc hƣớng tới phƣơng thức quản lý rừng mới mang tính bền vững hơn đó là phƣơng thức quản lý rừng đa mục đích đã không còn phù hợp nữa, xã hội loài ngƣời bắt đầu hƣớng tới một phƣơng thức quản lý rừng mới mang tính bền vững hơn đó là phƣơng thức quản lý rừng đa mục đích. Quản lý rừng theo hƣớng tiếp cận mới. Quản lý đa mục đích là một đóng góp đáng kể cùng sự phát triển của ngành lâm nghiệp, sự phát triển đó phải mang lại lợi ích kinh tế, môi trƣờng, xã hội có thể cân bằng giữa nhu cầu hiện tại và tƣơng lai.
Việc quản lý rừng theo phƣơng thức tập trung đã không mang lại kết quả trong quản lý tài nguyên rừng nhƣ mong muốn của các nhà quản lý, ngƣời ta bắt đầu nhận thấy tầm quan trọng của ngƣời dân, cộng đồng địa phƣơng trong việc tham gia quản lý tài nguyên rừng là cơ sở của sự ra đời phƣơng thức quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng và khái niệm đồng quản lý tài nguyên cũng đƣợc ra đời từ đó. Phƣơng thức quản lý rừng cộng đồng xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ và dần 4 dần biến đổi thành các hình thức quản lý khác nhau nhƣ lâm nghiệp trang trại, lâm nghiệp xã hội (Nêpan, Thái Lan, Philippines) [18]. Trong việc xây dựng mối quan hệ đồng quản lý tài nguyên rừng thì vai trò của ngƣời dân đƣợc nhắc tới nhiều hơn, để ngƣời dân thực sự cảm nhận đƣợc vai trò làm chủ của mình đối với tài nguyên rừng khi có sự tham gia vào công tác quản lý rừng. Tại Ấn Độ đã có hơn 63000 nhóm - tổ chức tham gia vào các chƣơng trình trồng mới 14 triệu ha rừng, mang lại hiệu quả tích cực trong việc phục hồi phát triển rừng của đất nƣớc, góp phần giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn về lợi ích giữa nhà nƣớc và ngƣời dân địa phƣơng.
Ở Nam Phi tại vƣờn quốc gia Richtersveld phƣơng thức hợp tác quản lý với cộng đồng dân cƣ dựa trên hƣơng ƣớc quản lý bảo vệ rừng, trong đó ngƣời dân cam kết bảo vệ đa dạng sinh học trên địa phận của mình còn đƣợc chính quyền và ban quản lý hỗ trợ ngƣời dân xây dựng cơ sở hạ tầng và cải thiện điều kiện kinh tế - xã hội khác góp phần rất tích cực cho việc thực hiện quản lý tại vƣờn quốc gia [10]. Chính sách của Nhà nƣớc về các giải pháp kinh tế, xã hội có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý rừng. Một trong những yếu tố quan trọng quyết định tới hiệu quả của công tác quản lý rừng đó là sự rõ ràng trong quyền sử dụng rừng và đất rừng. Những kết quả nghiên cứu cho thấy những nơi mà quyền sử dụng rừng và đất rừng không đƣợc xác định rõ thì tài nguyên rừng nhanh chóng bị khai thác cạn kiệt và chuyển sang các mục đích sử dụng khác, không khuyến khích đƣợc việc bảo vệ đất, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức vì lợi ích kinh tế trƣớc mắt.
Vì vậy sự tham gia của cộng đồng trong quản lý và sử dụng đất đƣợc xem là một trong những chìa khóa để nâng cao hiệu quả sử dụng đất [8]. - Có thể nói tóm tắt những xu hƣớng quản lý rừng trên thế giới trong những năm gần đây nhƣ sau: + Chuyển mục tiêu quản lý, sử dụng rừng từ sản xuất gỗ là chủ yếu sang mục tiêu sử dụng rừng kết hợp cả 3 lợi ích kinh tế - xã hội và môi trƣờng sinh thái. + Phân cấp quản lý nhà nƣớc về rừng và đất lâm nghiệp. Xu hƣớng là chuyển giao dần trách nhiệm và quyền lực về quản lý rừng từ cấp trung ƣơng đến địa phƣơng và cơ sở.
5 + Xúc tiến giao đất, giao rừng cho nhân dân, giảm bớt can thiệp của nhà nƣớc, thực hiện tƣ nhân hóa đất đai và cơ sở kinh doanh lâm nghiệp để tạo điều kiện cho việc quản lý rừng năng động và đem lại nhiều thuận lợi hơn. + Thu hút sự tham gia của các nhóm dân cƣ trong quá trình xây dựng kế hoạch quản lý rừng, rừng đã có chủ thực sự.