CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp 1.1 Đăng ký doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về đăng ký doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu tiến hành cải cách toàn diện môi trường kinh doanh và công tác đăng ký kinh doanh bằng việc ban hành và thực hiện Luật Doanh nghiệp 1999. Về cơ bản, Luật Doanh nghiệp đã thay đổi bản chất của việc đăng ký kinh doanh từ “xin phép được tiến hành kinh doanh” sang “thông báo với các cơ quan có thẩm quyền về sự hiện hữu của doanh nghiệp”. Hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện đăng ký kinh doanh đã được cải cách cơ bản, đơn giản hóa và rút ngắn nhiều lần so với trước đây. Những thay đổi mà cải cách đem lại đã tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của khu vực tư nhân ở Việt Nam, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi hệ thống cơ quan đăng ký kinh doanh phải khẩn trương được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu cải cách.
Trước tình hình đó, để chỉ đạo kịp thời và quyết liệt công cuộc cải cách môi trường kinh doanh, một số các văn bản hướng dẫn quan trọng đã được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành ban hành: Ngày 31/12/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 29/2000/CT- TTg về việc đẩy mạnh thực hiện Luật Doanh nghiệp [7]. Ngày 02/8/2002, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 17/2002/CT-TTg về việc tiếp tục đẩy mạnh thi hành Luật Doanh nghiệp [8]. Ngày 11/12/2003, Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 27/2003/CT-TTg về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Luật Doanh nghiệp, khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa[9]. Ngày 29/11/2005, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 [6].
5 Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B Ngày 23/10/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 236/2006/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 5 năm (2006-2010) [11]. Ngày 27/02/2007, liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Công an và Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp [1]. Ngày 30/11/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP về một số giải pháp xử lý những vướng mắc trong hoạt động đầu tư xây dựng và cải cách một số thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp [12]. Ngày 29/7/2008, Liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Công an và Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (Thay thế Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA) [2].
Ngày 15/4/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp [13]. Hiện nay, theo quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP thì khái niệm về đăng ký doanh nghiệp được hiểu: “Đăng ký doanh nghiệp bao gồm nội dung về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp”[13]. Đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là quyền của cá nhân, tổ chức và được nhà nước bảo hộ.2 Hình thức đăng ký doanh nghiệp - Đăng ký thành lập mới doanh nghiệp: Đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân; Đăng ký thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn; Đăng ký thành lập công ty cổ phần; Đăng ký thành lập công ty hợp danh.
6 Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B - Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp: Đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH, công ty CP; Đăng ký thay đổi chủ sở hữu công ty; Đăng ký thay đổi cổ động sáng lập công ty CP; Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký thuế; Đăng ký giải thể doanh nghiệp.3 Quy trình đăng ký doanh nghiệp + Nộp hồ sơ trực tiếp bằng bản giấy tại Phòng Đăng ký kinh doanh Bước 1: Người thành lập doanh nghiệp hoặc người đại diện theo ủy quyền nộp hồ sơ theo quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp tại Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được tiếp nhận để nhập thông tin vào Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia khi: - Có đủ giấy tờ theo quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP; - Tên doanh nghiệp đã được điền vào Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy đề nghị chuyển đổi doanh nghiệp; - Có địa chỉ liên lạc của người nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp; - Đã nộp lệ phí đăng ký doanh nghiệp theo quy định. Bước 2: Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Phòng Đăng ký kinh doanh phải trao Giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ. Bước 3: Sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, Phòng đăng ký kinh doanh kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và nhập đầy đủ, chính xác thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp vào Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.
Nếu hồ sơ hợp lệ, Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ. Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ hoặc tên doanh nghiệp yêu cầu đăng ký không đúng theo quy định, Phòng Đăng ký kinh doanh phải thông báo rõ nội dung cần sửa đổi, bổ sung bằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ. 7 Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B Hình 1. Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tiếp bằng bản giấy tại Phòng Đăng ký kinh doanh + Nộp hồ sơ qua mạng điện tử - Không sử dụng chữ ký số công cộng Bước 1: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp kê khai thông tin, tải văn bản điện tử, xác thực hồ sơ và thanh toán lệ phí qua mạng điện tử theo quy trình trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.
Bước 2: Sau khi hoàn thành quy trình gửi hồ sơ đăng ký, người thành lập doanh nghiệp sẽ nhận được Giấy biên nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử từ Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia. Bước 3: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ký tên vào Giấy biên nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử và gửi đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Bước 4: Phòng Đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét, gửi thông báo qua mạng điện tử cho doanh nghiệp để yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ trong trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ. 8 Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B Bước 5: Sau khi nhận được thông báo về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệp phải nộp một bộ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp bằng bản giấy kèm theo Giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử đến Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.
Bước 6: Sau khi nhận được hồ sơ bằng bản giấy, Phòng Đăng ký kinh doanh xem xét cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp.Doanh nghiệp có thể nhận trực tiếp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại Phòng Đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký và trả phí để nhận qua đường bưu điện. Quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử không sử dụng chữ ký số công cộng - Sử dụng chữ ký số công cộng Bước 1: Người thành lập doanh nghiệp kê khai thông tin, tải văn bản điện tử, ký số vào hồ sơ đăng ký điện tử và thanh toán lệ phí qua mạng điện tử theo quy trình trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia. 9 Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B Bước 2: Sau khi hoàn thành quy trình gửi hồ sơ đăng ký, người thành lập doanh nghiệp sẽ nhận được Giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử. Bước 3: Phòng Đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét, gửi thông báo qua mạng cho doanh nghiệp để yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ trong trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ.
Khi hồ sơ đã đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể nhận trực tiếp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại Phòng Đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký và trả phí để nhận qua đường bưu điện. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp nộp qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia có giá trị pháp lý như hồ sơ nộp bằng bản giấy. Quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử sử dụng chữ ký số công cộng 1.2 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “quản lý”.
Có quan niệm cho rằng quản lý là cai trị, cũng có quan điểm cho rằng quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy. Quan niệm chung nhất được nhiều giáo trình liên quan đến khoa học quản lý, quản trị đưa ra như sau: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá 10 Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan” [5]. Quan niệm này không những phù hợp với hệ thống máy móc thiết bị, cơ thể sống, mà còn phù hợp với một tập thể người, một tổ chức hay một hệ thống tổ chức nằm trong xã hội. Nếu xét theo góc độ đối tượng quản lý thì có thể chia hoạt động quản lý thành 3 loại: - Loại thứ nhất: là hoạt động của con người điều khiển các vật hữu sinh không phải con người để bắt chúng phải thực hiện ý đồ điều khiển.
Ví dụ như hoạt động trồng trọt, chăn nuôi… - Loại thứ hai: là hoạt động của con người điều khiển các vật vô tri vô giác để bắt chúng thực hiện theo ý đồ của người điều khiển.