Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ THAM NHŨNG VÀ VAI TRÕ CỦA CÔNG TÁC THANH TRA ĐỐI VỚI VIỆC PHÕNG, CHỐNG THAM NHŨNG 1. Khái niệm, nguồn gốc và nguyên nhân của tham nhũng 1. Khái niệm tham nhũng Tham nhũng là một phạm trù lịch sử, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và tồn tại song song cùng với sự phát triển của Nhà nước. Lịch sử nhà nước từ khi xuất hiện đến nay cho thấy, tham nhũng như một khuyết tật bẩm sinh của “quyền lực”, là loại tội phạm cực kỳ nguy hiểm bởi tính chất và hậu quả mà nó gây ra.
Có thể nói, tham nhũng có từ rất lâu và cũng có rất nhiều cách hiểu về khái niệm này xuất phát từ điều kiện, đặc thù riêng của mỗi quốc gia và phương pháp tiếp cận khác nhau của các nhà nghiên cứu. Từ điển Bách khoa của Brue Khaus Cộng hoà Liên Bang Đức nêu khái niệm: “Tham nhũng là hiện tượng mất phẩm chất, hối lộ, đút lót, thường xảy ra đối với công chức có quyền hành”[21,10]. Người Áo cho rằng: “Tham nhũng là hiện tượng lừa đảo, hối lộ, bóc lột”[21,10]. Các chuyên gia của Ngân Hàng thế giới và Tổ chức minh bạch quốc tế lại cho rằng: “Tham nhũng có thể được định nghĩa như là sự làm dụng quyền lực công để mưu cầu lợi ích cá nhân hay một lợi ích của một nhóm người mà ta phải trung thành với nó”[45,28].
Theo tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham nhũng (năm 1969) thì tham nhũng được định nghĩa đơn giản, trong một phạm vi hẹp, đó là "sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng”. Còn theo định nghĩa của Ban nghiên cứu của Hội đồng châu Âu thì khái niệm tham nhũng đã có sự phát triển rộng hơn, bao gồm hành vi hối lộ và bất kỳ một hành vi nào khác của những người được giao thực hiện một trách nhiệm nào đó trong khu vực nhà nước hoặc tư nhân nhưng đã vi phạm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trách nhiệm được giao để thu bất kỳ một thứ lợi bất hợp pháp nào cho cá nhân hoặc cho người khác [21,108]. Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Tham nhũng là hành vi lợi dụng quyền hành để tham ô và hạch sách, nhũng nhiễu dân”[43, 1523]. Quan niệm này xuất phát từ chính bản thân cụm từ “tham nhũng” gồm hai yếu tố: Tham và nhũng.
Tham là hám lợi, tư lợi, vụ lợi. Nhũng là lợi dụng quyền hành, chức trách được giao để sách nhiễu, nhũng nhiễu nhằm làm thoả mãn lòng tham. Pháp lệnh chống Tham nhũng năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2000) quy định “tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để tham ô, hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức”[15,1]. Cũng theo quy định của Pháp lệnh này, tham nhũng là hành vi xảy ra trong khu vực công, khu vực nhà nước, đồng thời Pháp lệnh cũng liệt kê rõ các hành vi tham nhũng, bao gồm: tham ô, nhận hối lộ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi.
Những hành vi này cũng chính là các loại tội về tham nhũng đã được Bộ luật hình sự quy định. Luật Phòng, chống tham nhũng của Việt nam được Quốc hội Khoá 11 thông qua tại kỳ họp thứ 8, (tháng 11/2005) quy định: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” [7,1]. Đồng thời, xác định phạm vi điều chỉnh là hành vi tham nhũng của những người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, đơn vị thuộc khu vực nhà nước (tương tự như Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998). 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có thể nhận thấy, quan niệm về tham nhũng ở các nước trên thế giới không giống nhau tuỳ thuộc vào truyền thống lịch sử, yếu tố văn hoá, điều kiện kinh tế - xã hội, tình hình tham nhũng và phương pháp tiếp cận.
Nhìn chung, tồn tại hai loại khái niệm phổ biến nhất về tham nhũng: - Khái niệm tham nhũng được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm hành vi của mọi chủ thể có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi. Chủ thể của hành vi tham nhũng có thể là cán bộ, công chức, viên chức hoặc người khác thuộc khu vực nhà nước hoặc khu vực tư nhân. - Theo nghĩa hẹp thì tham nhũng được hiểu là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực nhà nước đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi, tức là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước. Quan niệm thứ hai được thừa nhận rộng rãi hơn cả và là khái niệm chính thống được pháp luật Việt Nam quy định (trong Luật phòng, chống tham nhũng).
Trong luận văn này, tác giả cũng tiếp cận và phân tích tham nhũng dưới góc độ này nhằm nêu bật được vai trò của thanh tra với tư cách là một thiết chế quyền lực công đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, việc pháp luật của Việt nam quy định giới hạn phạm vi hẹp như vậy là để nhằm bảo đảm cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng tập trung vào những hành vi tham nhũng xảy ra phổ biến nhất, bảo đảm tính trọng tâm, trọng điểm nhằm nâng cao hiệu quả trong đấu tranh chống tham nhũng. Đồng thời bảo đảm cho khu vực tư phát triển, khuyến khích đầu tư nước ngoài với việc bảo đảm các quyền tài sản của công dân, quyền bí mật trong kinh doanh, quyền cạnh tranh lành mạnh của doanh nghiệp. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với quan niệm này, tham nhũng được coi là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để tham ô, nhận hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi.
Theo đó, tham nhũng bao gồm ba yếu tố chính: - Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ quyền hạn; - Hành vi tham nhũng là lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hoặc không thực hiện việc gì đó thuộc phạm vi trách nhiệm của mình; - Mục đích là thu lợi cho bản thân hoặc cho người có liên quan đến bản thân mình. Hành vi tham nhũng thường được biểu hiện bằng việc các công chức nhà nước cố ý làm trái hoặc không thực hiện các quy định pháp luật trong chấp hành chức trách, công vụ được giao. Pháp luật các nước đều quy định tham nhũng là loại tội phạm hình sự với nhiều tội danh khác nhau, biểu hiện tập trung và điển hình nhất là ở loại tội phạm tham ô và nhận hối lộ. Có nhiều cách phân chia tham nhũng thành các loại dựa theo các tiêu chí khác nhau: dựa trên tiêu chí mức độ, có thể phân chia tham nhũng thành: tham nhũng lớn và tham nhũng nhỏ.
Tham nhũng lớn thường xuất phát từ những quyết định quan trọng của cơ quan nhà nước và nó liên quan đến việc sử dụng những khoản công quỹ lớn của Nhà nước. Số lượng những vụ tham nhũng lớn không nhiều nhưng nó gây thiệt hại lớn về tài sản và những ảnh hưởng không tốt về mặt chính trị. Tham nhũng nhỏ là những hành vi của công chức có chức vụ không cao trong bộ máy chính quyền với những lợi ích thu được không lớn, tuy không gây thiệt hại nhiều về tài sản nhưng nó lại diễn ra thường xuyên, phổ biến và ảnh hưởng đến phần lớn cư dân, những người có thu nhập khá thấp vì thế nó cũng làm xấu đi đáng kể tính phục vụ nhân dân của cơ quan công quyền, mặt khác nó còn làm méo mó hoạt động của cơ quan 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhà nước. Theo mức độ hậu quả mà nó gây ra, tham nhũng được phân loại thành tham nhũng nghiêm trọng và tham nhũng ít nghiêm trọng, dựa theo đối tượng tham nhũng được phân loại thành tham nhũng cấp cao và tham nhũng cấp thấp… 1.
Nguồn gốc và nguyên nhân của tham nhũng Có nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn gốc và nguyên nhân của tham nhũng, và thực tế cũng có nhiều nguyên nhân dẫn đến tệ nạn tham nhũng, có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân phổ biến và nguyên nhân đặc thù. Trên cơ sở nghiên cứu hành vi tham nhũng gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước, trong luận văn này, tác giả tiếp cận nguồn gốc và nguyên nhân của tham nhũng ở hai mặt chủ quan và khách quan như sau: 1. Nguyên nhân khách quan. a) Tham nhũng là căn bệnh của xã hội, xuất hiện từ khi có giai cấp Tham nhũng là một phạm trù lịch sử, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và tồn tại song song cũng với sự phát triển của Nhà nước.
Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ chưa có giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật, quyền lực tồn tại trong xã hội để quản lý các công việc của xã hội là quyền lực xã hội, nó chưa tách khỏi xã hội mà gắn liền với xã hội, hoà nhập với xã hội. Vì cơ sở kinh tế của xã hội là chế độ công hữu, không ai có tài sản riêng, mọi người bình đẳng về địa vị và quyền lợi kinh tế, họ cùng nhau quản lý tài sản công, do đó trong xã hội không có tình trạng tham nhũng. Khi trong xã hội bắt đầu có sự phân chia thành các giai cấp có lợi ích đối lập nhau, luôn đấu tranh để bảo vệ lợi ích của mình. Từ đó, đã xuất hiện nhà nước, với tư cách là cơ quan quyền lực nhằm điều hoà những lợi ích khách quan, thậm chí đối lập nhau giữa cá nhân với cá nhân, giữa tập đoàn người này với tập đoàn 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người khác, giữa cá nhân hoặc tập đoàn người và xã hội.
Quyền lực bao giờ cũng được thực thi thông qua con người cụ thể và một khi những con người cụ thể đó sử dụng quyền lực được nhà nước trao cho mình để vụ lợi thì hành vi đó là hành vi tham nhũng.