Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về nhập khẩu và hiệu quả nhập khẩu 14 Chương 3: Thực trạng hiệu quả hoạt động nhập khẩu mặt hàng dầu nhờn PEMCO của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại Hóa dầu Việt Nam trong giai đoạn 2019-2021. Chương 4: Định hướng phát triển và giải pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu mặt hàng dầu nhờn PEMCO của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại Hóa dầu Việt Nam. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU VÀ HIỆU QUẢ NHẬP KHẨU 2. Cơ sở lý luận chung về nhập khẩu 2.
Khái niệm về nhập khẩu Theo Điều 28 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Theo Lý luận về thương mại quốc tế: “Nhập khẩu là việc quốc gia này mua hàng hoá và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho người tiêu dùng trong nước.” Theo định nghĩa của từ điển kinh tế học hiện đại của học viện công nghệ Massachuset thì “Hàng nhập khẩu là hàng hóa và dịch vụ được tiêu dùng ở một nước nhưng mua ở nước khác”. Như vậy nhập khẩu tức là việc mua hàng từ quốc gia khác, từ doanh nghiệp, công ty nước ngoài về tiêu thụ trong nội địa hoặc tái xuất nhằm mục đích lợi nhuận và nối liền sản xuất giữa các quốc gia. Đặc điểm của nhập khẩu 15 Nhập khẩu là hoạt động phức tạp so với hoạt động kinh doanh trong nước.
Hoạt động nhập khẩu có những đặc điểm sau: Hoạt động nhập khẩu chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật như điều ước quốc tế và Ngoại thương, luật quốc gia của các nước hữu quan, tập quán Thương mại quốc tế. Các phương thức giao dịch mua bán trên thị trường quốc tế rất phong phú: Giao dịch thông thường, giao dịch qua trung gian, giao dịch tại hội chợ triển lãm. Các phương thức thanh toán rất đa dạng: nhờ thu, hàng đổi hàng, L/C. Tiền tệ dùng trong thanh toán thường là ngoại tệ mạnh có sức chuyển đổi cao như: USD, bảng Anh.
Điều kiện cơ sở giao hàng: có nhiều hình thức nhưng phổ biến là nhập khẩu theo điều kiện CIF, FOB. Kinh doanh nhập khẩu là kinh doanh trên phạm vi quốc tế nên dịa bàn rộng, thủ tục phức tạp, thời gian thực hiện lâu. Kinh doanh nhập khẩu phụ thuộc vào kiến thức kinh doanh, trình độ quản lý, trình độ nghiệp vụ Ngoại thương, sự nhanh nhạy nắm bắt thông tin. Trong hoạt động nhập khẩu có thể xảy ra những rủi ro thuộc về hàng hoá.
Để đề phong rủi ro, có thể mua bảo hiểm tương ứng. Nhập khẩu là cơ hội để các doanh nghiệp có quốc tịch khác nhau hợp tác lâu dài. Thương mại quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ kinh tế - chính trị của các nước xuất khẩu, góp phần phát triển kinh tế đối ngoại. Vai trò của nhập khẩu 16 Nhập khẩu là một trong hai hoạt động cấu thành ngoại thương.
Có thể hiểu đó là việc mua hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái sản xuất nhằm mục đích thu lợi. Nhập khẩu thể hiện sự phụ thuộc gắn bó lẫn nhau giữa nền kinh tế của một quốc gia với nền kinh tế Thế giới. Nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế, thị trường trong và ngoài nước, tạo điều kiện phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy được lợi thế so sánh của đất nước trên cơ sở chuyên môn hóa. Nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội địa và hàng ngoại nhập, tạo ra động lực bắt buộc các nhà sản xuất trong nước phải không ngừng vươn lên, tạo ra sự phát triển xã hội và sự thanh lọc các đơn vị sản xuất.
Nhập khẩu tạo ra sự chuyển giao công nghệ, do đó tạo ra sự phát triển vượt bậc của sản xuất xã hội, tiết kiệm chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều về trình độ phát triển trong xã hội. Nhập khẩu xóa bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để nền kinh tế đóng, chế độ tự cấp, tự túc. Nhập khẩu giải quyết những nhu cầu đặc biệt (hàng hóa hiếm hoặc quá hiện đại mà trong nước không thể sản xuất được). Các hình thức nhập khẩu Nhập khẩu trực tiếp: Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu, trong đó, doanh nghiệp phải trực tiếp làm mọi khâu của quá trình kinh doanh nhập khẩu, như tìm kiếm đối tác, đàm phán ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng… và phải bỏ vốn để tổ chức kinh doanh nhập khẩu.
Khi sử dụng hình thức này, các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với các hoạt động 17 của mình. Độ rủi ro của hình thức nhập khẩu trực tiếp cao hơn song lại đem lại lợi nhuận cao hơn so với các hình thức khác. Nhập khẩu ủy thác: Nhập khẩu ủy thác là nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước có vốn, có nhu cầu nhập khẩu nhưng lại không có quyền tham gia vào các quan hệ xuất nhập khẩu trực tiếp hay xét thấy nhập khẩu trực tiếp không có lợi (bên ủy thác), đã ủy thác cho doanh nghiệp khác có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thương (bên được ủy thác) tiến hàng nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên nhận ủy thác có nghĩa vụ đàm phán ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài, làm thủ tục nhập khẩu theo yêu cầu của bên ủy thác và được nhận một khoản phí gọi là phí ủy thác.
Quan hệ giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác được quy định đầy đủ trong hợp đồng ủy thác. Bán buốn đối lưu: Mua bán đối lưu là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hóa, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương đương với lượng hàng nhập về. Như vậy, mua bán đối lưu thực chất chỉ là sự trao đổi hàng hóa giữa các bên tham gia. Đồng tiền chỉ đóng vai trò cơ bản là chức năng tính toán chứ không sử dụng vai trò là chức năng thanh toán.
Người mua và người bán vừa phải làm thủ tục xuất hàng đi và làm thủ tục nhập hàng về. Do đó, hoạt động xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với hoạt động nhập khẩu. Xét dưới giác độ ngoại thương, thực chất đây là hoạt động trao đổi hàng hóa không làm tăng hay giảm cán cân thương mại của các quốc gia tham gia, hoạt động mua và bán chỉ là hình thức nên hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu đóng vai trò hỗ trợ cho quan hệ trao đổi đó. Nhập khẩu tái xuất: Nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu vào một nước nhưng không phải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang nước khác 18 nhằm thu lợi nhuận, nhưng hàng nhập khẩu phải được đảm bảo là không được chế biến tại nước tái xuất.
Nhập khẩu gia công: Nhập khẩu gia công là hình thức nhập khẩu mà bên nhập khẩu (bên nhận gia công) tiến hành nhập khẩu nguyên vật liệu từ phía người xuất khẩu (bên đặt gia công) để tiến hành gia công theo quy định trong hợp đồng ký kết giữa hai bên. Hình thức nhập khẩu này được thực hiện chủ yếu trong ngành may mặc, da giày, điện tử, điện máy, công nghệ thông tin. Nhập khẩu liên doanh: Đây là một hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kỹ thuật một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng, kỹ thuật để cùng giao dịch và đề ra các chủ trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên, cùng chia lãi nếu lỗ thì cùng phải chịu. Cơ sở lý luận về hiệu quả nhập khẩu 2.
Khái niệm về hiệu quả nhập khẩu Hiệu quả nhập khẩu là một đại lượng kinh tế phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả của hoạt động nhập khẩu và toàn bộ chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Trên mỗi phạm vi và góc độ nhìn nhận thì hiệu quả nhập khẩu lại được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Với góc độ của doanh nghiệp: Hiệu quả nhập khẩu có được khi doanh nghiệp thu được kết quả tối đa với chi phí bỏ ra là tối thiểu, hiệu quả đó thể hiện khả năng sử dụng các nguồn lực, trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp trong quá trình tham gia vào hoạt động nhập khẩu. 19 Với góc độ của xã hội: Hiệu quả nhập khẩu đạt được khi kết quả thu được từ nhập khẩu cao hơn kết quả đạt được khi tiến hành sản xuất các hàng hóa, dịch vụ đó trong nước.
Điều này được hiểu rằng hoạt động nhập khẩu có hiệu quả khi nó nâng cao hiệu quả lao động xã hội đồng thời tăng chất lượng và giảm giá thành của sản phẩm. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nhập khẩu 2. Chỉ tiêu lợi nhuận nhập khẩu Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế mang tính tổng hợp, phản ánh toàn bộ kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. P=R–C Trong đó: P là lợi nhuận nhập khẩu R là doanh thu nhập khẩu C là chi phí nhập khẩu Ý nghĩa, lợi nhuận là cơ sở để doanh nghiệp duy trì hoạt động, đồng thời tái sản xuất kinh doanh.
Lợi nhuận càng lớn, tiềm lực tài chính càng tăng, nó cũng chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng đạt hiệu quả. Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận nhập khẩu a. Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu P2 =Ln/Dn Trong đó: P2: Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu Ln: Lợi nhuận thu được từ hoạt động nhập khẩu. 20 Dn: Doanh thu thu được từ hoạt động nhập khẩu.
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng doanh thu nhập khẩu thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận nhập khẩu. Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên chi phí P3 =Ln/Cn Trong đó: P3: Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí Ln: Lợi nhuận thu được từ hoạt động nhập khẩu. Cn: Chi phí cho hoạt động nhập khẩu. Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ vào hoạt động nhập khẩu thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn a.