Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP 1.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm doanh nghiệp Với tính chất là một thực thể kinh tế - xã hội, doanh nghiệp là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa học pháp lý. Ở Việt Nam, pháp luật hiện hành sử dụng khái niệm doanh nghiệp để chỉ các chủ thể kinh doanh chủ yếu trong nền kinh tế. Tuy vậy, từ trước tới nay những vấn đề lý luận về doanh nghiệp ít được đề cập dưới giác độ của khoa học pháp lý.
Tác giả Nguyễn Am Hiểu đã nhận xét rằng, “doanh nghiệp là gì? Trong lịch sử câu hỏi này thường được khoa học kinh tế quan tâm hơn là khoa học pháp lý” [38, tr. Cũng có lẽ vì vậy mà xung quanh khái niệm doanh nghiệp cho đến nay vẫn còn nhiều vấn dé chưa được giải quyết triệt để cả trên phương diện lý luận cũng như luật thực định. Trong điều kiện như vậy, việc làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh nói chung và pháp luật về tổ chức doanh nghiệp nói riêng. Lý luận và thực tiễn đã chứng minh sự ra đời và phát triển một cách khách quan của hoạt động kinh doanh với tính chất là một nghề nghiệp trong xã hội.
Cũng như nhiều nghề nghiệp khác, nghề kinh doanh được tiến hành bởi những chủ thể nhất định và được tổ chức dưới những hình thức pháp lý nhất định. Trên bình diện khoa học, thuật ngữ được các nhà nghiên cứu sử dụng để định danh những người hành nghề kinh doanh là rất phong phú và đa dạng. Thực tiễn phát triển của khoa học pháp lý và pháp luật thực định trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã từng biết đến nhiều khái niệm để chỉ những người hành nghề kinh doanh như chủ thể kinh doanh, nhà kinh doanh, thương nhân, doanh nghiệp. mà không phải lúc nào nội hàm của các khái niệm này cũng được xác định rõ ràng và thống nhất.
Trong luận án 10 này, thuật ngữ doanh nghiệp được tiếp cận với tính chất một thuật ngữ khoa học để nghiên cứu mà không lệ thuộc vào việc có hay không có việc sử dụng thuật ngữ này trong pháp luật thực định ở mỗi quốc gia trong các thời kỳ khác nhau. Nền kinh tế thế giới đã trải qua nhiều phương thức sản xuất với các hình thức tổ chức kinh doanh khác nhau. Ở mỗi quốc gia và trong từng giai đoạn phát triển kinh tế, với những đặc điểm về chính trị, văn hóa, phong tục, tập quán., nghề kinh doanh có vị trí, vai trò và được nhìn nhận khác nhau, theo đó những chủ thể hành nghề kinh doanh được đối xử một cách không giống nhau trên cả phương diện quan niệm xã hội và pháp luật. Có lẽ xuất phát từ thực tế đó mà doanh nghiệp, dù tồn tại ở quốc gia nào trên thế giới, thì ngoài những đặc điểm chung vẫn luôn mang những nét đặc thù.
Về mặt ngữ vựng, doanh nghiệp (trong tiếng Anh là Enterprise) có nghĩa là công việc kinh doanh (business venture or undertaking) [77, tr. Tuy nhiên, trên thực tế khái niệm doanh nghiệp thường được dùng với nghĩa là hình thức tổ chức các hoạt động kinh doanh. Trong giới nghiên cứu, có quan điểm hiểu khái niệm doanh nghiệp với nội hàm rất rộng, bao gồm tất cả những chủ thể hành nghề kinh doanh (không phân biệt chủ thể đó là pháp nhân hay thể nhân): “Doanh nghiệp được hiểu là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh” [41, tr. 8]; “Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh được thành lập hợp pháp, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh và lấy hoạt động kinh doanh làm nghề nghiệp chính” [65, tr.
Theo quan điểm này, khái niệm doanh nghiệp được hiểu đồng nghĩa với khái niệm về chủ thể kinh doanh hay nhà kinh doanh. Quan điểm khác lại cho rằng doanh nghiệp chỉ bao gồm những chủ thể kinh doanh đáp ứng được những điều kiện nhất định (về cơ cấu tổ chức, tư cách pháp lý.): “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, tru sở giao dịch ổn định, được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh” [67, tr. Theo đó, doanh nghiệp chi là một loại chủ thể kinh doanh. Từ đó có thể suy luận lôgic, sẽ có những chủ thể là chủ thể kinh doanh (thực hiện nghề nghiệp kinh doanh) 1] nhưng không được coi là doanh nghiệp (đơn cử là nếu chủ thé kinh doanh đó không có trụ sở giao dịch ổn định).
Cách hiểu này có phần lệ thuộc vào các quy định của luật thực định hiện hành ở Việt Nam (Luật Doanh nghiệp năm 1999) khi xác định khái niệm doanh nghiệp. Bên cạnh đó cũng có quan điểm cho rằng, doanh nghiệp cần được hiểu theo hai nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Ở nghĩa rộng, doanh nghiệp là tất cả các “cơ sở sản xuất kinh doanh”; ở nghĩa hẹp, doanh nghiệp chỉ bao gồm các cơ sở kinh doanh thuộc khu vực chính thức (có đăng ký tư cách theo quy định của pháp luật), không tính các cơ sở thuộc khu vực phi kết cấu (non-structure) [40, tr. Quan điểm này cũng cho rằng, việc hiểu doanh nghiệp theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp có ý nghĩa quan trong trong việc hoạch định chính sách và thực hiện các chế độ quản lý của Nhà nước đối với các cơ sở kinh tế.
Khi phân tích một số vấn đề phương pháp luận về Dự thảo Luật Doanh nghiệp, tác giả Nguyễn Như Phát cho rằng “trong cơ chế thị trường hiện đại, đã và sẽ xuất hiện rất nhiều mô hình pháp lý của việc tổ chức các hoạt động kinh doanh mà ta quen gọi là doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa rằng, doanh nghiệp là khái niệm chung, không có nội hàm pháp lý cụ thể và không biểu hiện một mô hình pháp lý cụ thể của việc tổ chức và quản lý các hoạt động kinh tế, thương mại” [58, tr. Theo suy luận lôgic từ quan điểm này, việc đặt ra một định nghĩa pháp lý chung về doanh nghiệp trong pháp luật thực định là rất khó đảm bảo tính bao quát và ít có ý nghĩa thực tiễn. Ở một giác độ khác, lại có quan điểm cho rằng, doanh nghiệp là hiện tượng riêng có của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.
Đại diện cho quan điểm này là Gutenberg. Theo Gutenberg, xí nghiệp thì có cả trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và nền kinh tế thị trường, nhưng doanh nghiệp là một hiện tượng đặc biệt của kinh tế thị trường, vì chỉ ở đó mới có các đặc điểm cơ bản của các doanh nghiệp. Các đặc điểm đó là: (i) Nguyên tắc tự chủ; (ii) Nguyên tắc thu nhập kinh tế; (iii) Nguyên tắc sở hữu tư nhân và từ đó phát sinh quyền tự quyết định [79]. k2 Guttenberg đã xuất phát từ góc độ điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp để khẳng định tính riêng có của doanh nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường.
Với quan điểm này, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung sẽ không bao hàm các yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Các đơn vị kinh tế trong cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung như: nông, lâm trường quốc doanh, xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, xí nghiệp liên hợp hay liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh. không có cùng bản chất với doanh nghiệp. Quan điểm khoa học có ảnh hưởng nhất định đến nội dung luật pháp.
Trên thế giới hiện nay có nhiều trường phái pháp luật về doanh nghiệp. Pháp luật đa số các nước quan niệm doanh nghiệp chỉ là những chủ thể kinh doanh thuần túy (có nghề nghiệp chính là hoạt động kinh doanh). Tuy nhiên, ở một số nước (Cộng hòa Liên bang Đức là một ví dụ), doanh nghiệp được hiểu không chỉ bao gồm các chủ thể kinh doanh thuần túy (thương gia), mà còn bao gồm cả những tổ chức kinh tế hoạt động vì mục tiêu công ích. Theo pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức, "doanh nghiệp bao gồm doanh nghiệp thành lập theo luật công và doanh nghiệp thành lập theo luật tư.
Khi phân biệt hai loại doanh nghiệp này, người ta dựa trên cơ sở phân chia theo trật tự pháp luật công và pháp luật tư. Doanh nghiệp theo luật công có thể là: xí nghiệp trực thuộc, những thực thể chính quyền, đơn vị sự nghiệp" [8O, tr. Tuy nhiên, pháp luật Đức có sự phân biệt rõ ràng trong cơ chế điều chỉnh pháp luật về tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp thành lập theo luật công và các doanh nghiệp thành lập theo luật tư. Cơ sở của sự phân biệt này là chức năng và mục đích hoạt động của hai loại doanh nghiệp có sự khác nhau.
Doanh nghiệp thành lập theo luật công có chức năng chủ yếu là hoạt động công ích; trong khi đó, các doanh nghiệp thành lập theo luật tư có chức năng chủ yếu là hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận. Qua nghiên cứu cho thấy, về mặt thực tiễn, hầu hết các nước trên thế giới đều tồn tại những tổ chức kinh tế công (thông thường do nhà nước đầu tư vốn) giống như ở Cộng hòa Liên bang Đức, song thông thường những tổ chức này không được coi là doanh nghiệp, hay chí ít thì cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với chúng cũng khác với những doanh nghiệp kinh doanh thuần túy. 13 Đối với những doanh nghiệp kinh doanh thuần túy, hình thức pháp lý của chúng được luật pháp quy định rất đa dạng. Luật pháp các nước thông thường không quy định khái niệm chung về doanh nghiệp, mà chỉ đưa ra định nghĩa pháp lý về từng loại hình doanh nghiệp cụ thể.
Thực tiễn pháp luật các nước phản ánh một quan điểm phổ biến coi doanh nghiệp là tất cả các đơn vị kinh doanh hợp pháp; khái niệm doanh nghiệp (Enterprise) dường như đồng nghĩa với khái niệm chủ thể kinh doanh (Business Entity), theo đó, doanh nghiệp là các chủ thể pháp luật (cá nhân hoặc pháp nhân), được thành lập theo quy định của pháp luật để tiến hành hoạt động kinh doanh. Khác với nhiều nước trên thế giới, pháp luật hiện hành ở Việt Nam có đưa ra định nghĩa pháp lý về doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp tư nhân (1990), Luật Công ty (1990) mà sau đó được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp (1999), là các văn bản đưa ra định nghĩa chính thức về doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam.