Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Luận án tiến sĩ nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở việt nam, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Luật Học

2005

212
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP

1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp

1.2. Pháp luật về doanh nghiệp

1.2.1. Quan niệm pháp luật về doanh nghiệp

1.2.2. Hệ thống pháp luật về doanh nghiệp

1.2.3. Những yếu tố chi phối pháp luật về doanh nghiệp

1.2.4. Vai trò của pháp luật về doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

2.1. Thực trạng cấu trúc hệ thống pháp luật về doanh nghiệp

2.2. Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp nhà nước

2.3. Thực trạng pháp luật về công ty, doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể

2.4. Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

3.1. Quan điểm và định hướng hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp

3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

KẾT LUẬN

NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan Pháp luật Doanh nghiệp Việt Nam Vai trò Nội dung

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật. Quyền tự do kinh doanh và bình đẳng của các doanh nghiệp chỉ thực sự được bảo đảm trên cơ sở một hệ thống pháp luật hoàn thiện, mà trước hết là hệ thống pháp luật về tổ chức doanh nghiệp. Trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh nói riêng, được xây dựng trên nền tảng những đặc thù về chính trị, kinh tế - xã hội, có tính chất giải pháp tình thế, nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc do thực tiễn kinh doanh đặt ra. Các văn bản pháp luật doanh nghiệp ngày càng được gia tăng nhanh chóng cả về số lượng và hình thức văn bản. Tuy nhiên chất lượng của các văn bản này nhiều khi còn rất khác nhau.

1.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp theo pháp luật

Với tính chất là một thực thể kinh tế - xã hội, doanh nghiệp là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa học pháp lý. Ở Việt Nam, pháp luật hiện hành sử dụng khái niệm doanh nghiệp để chỉ các chủ thể kinh doanh chủ yếu trong nền kinh tế. Tác giả Nguyễn Am Hiểu đã nhận xét rằng, doanh nghiệp là gì? Trong lịch sử câu hỏi này thường được khoa học kinh tế quan tâm hơn là khoa học pháp lý. Trong luận án, thuật ngữ doanh nghiệp được tiếp cận với tính chất một thuật ngữ khoa học để nghiên cứu mà không lệ thuộc vào việc có hay không có việc sử dụng thuật ngữ này trong pháp luật thực định ở mỗi quốc gia trong các thời kỳ khác nhau.

1.2. Vai trò của pháp luật doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Lý luận và thực tiễn đã chứng minh sự ra đời và phát triển một cách khách quan của hoạt động kinh doanh với tính chất là một nghề nghiệp trong xã hội. Cũng như nhiều nghề nghiệp khác, nghề kinh doanh được tiến hành bởi những chủ thể nhất định và được tổ chức dưới những hình thức pháp lý nhất định. Trên bình diện khoa học, thuật ngữ được các nhà nghiên cứu sử dụng để định danh những người hành nghề kinh doanh là rất phong phú và đa dạng. Nền kinh tế thế giới đã trải qua nhiều phương thức sản xuất với các hình thức tổ chức kinh doanh khác nhau. Ở mỗi quốc gia và trong từng giai đoạn phát triển kinh tế, với những đặc điểm về chính trị, văn hóa, phong tục, tập quán., nghề kinh doanh có vị trí, vai trò và được nhìn nhận khác nhau, theo đó những chủ thể hành nghề kinh doanh được đối xử một cách không giống nhau trên cả phương diện quan niệm xã hội và pháp luật.

II. Điểm nghẽn Thực trạng Pháp luật Doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Với quan điểm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN, những năm gần đây Nhà nước ta rất quan tâm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp. Việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 được xem như một bước phát triển quan trọng, với những tư duy pháp lý mới trong xây dựng pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành về doanh nghiệp vẫn chưa đạt được mức độ hoàn thiện cần thiết, chưa đáp ứng tốt các yêu cầu mà thực tiễn kinh doanh đang đặt ra. Những vấn đề pháp lý về tổ chức doanh nghiệp được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.

2.1. Bất cập trong cấu trúc và nội dung hệ thống pháp luật doanh nghiệp

Tính phức tạp, mâu thuẫn, chồng chéo là những biểu hiện không hiếm thấy trong pháp luật hiện hành về doanh nghiệp. Thực tế này là nguyên nhân không nhỏ dẫn đến kìm hãm sự phát triển của hoạt động kinh doanh; tạo ra sự phân bổ các nguồn lực không hợp lý, tác động tiêu cực đến sản xuất kinh doanh và tính công bằng trong môi trường kinh doanh. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục “Đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau.

2.2. Hạn chế trong quy định về doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân

Những vấn đề pháp lý về tổ chức doanh nghiệp được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Nội dung của các văn bản pháp luật này bộc lộ nhiều bất cập cả về nội dung pháp lý và kỹ thuật lập pháp. Tính phức tạp, mâu thuẫn, chồng chéo là những biểu hiện không hiếm thấy trong pháp luật hiện hành về doanh nghiệp. Thực tế này là nguyên nhân không nhỏ dẫn đến kìm hãm sự phát triển của hoạt động kinh doanh; tạo ra sự phân bổ các nguồn lực không hợp lý, tác động tiêu cực đến sản xuất kinh doanh và tính công bằng trong môi trường kinh doanh.

2.3. Vướng mắc về pháp luật đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đưa Luật Doanh nghiệp (áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế) vào chương trình chuẩn bị xây dựng Luật của Quốc hội nhiệm kỳ khóa IX (2002-2007). Tuy nhiên, xung quanh vấn đề xây dựng Luật Doanh nghiệp chung, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong cả giới nghiên cứu và lập pháp. Bên cạnh những ý kiến ủng hộ quan điểm xây dựng một đạo luật về doanh nghiệp, có quan điểm còn băn khoăn về sự cần thiết và tính kha thi thậm chí phản đối việc pháp điển hóa pháp luật về doanh nghiệp theo cách này.

III. Phương pháp Hoàn thiện Pháp luật Doanh nghiệp tại Việt Nam

Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục “Đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau. Trên tinh thần đó, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đưa Luật Doanh nghiệp (áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế) vào chương trình chuẩn bị xây dựng Luật của Quốc hội nhiệm kỳ khóa IX (2002-2007). Tuy nhiên, xung quanh vấn đề xây dựng Luật Doanh nghiệp chung, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong cả giới nghiên cứu và lập pháp.

3.1. Xây dựng Luật Doanh nghiệp thống nhất bao trùm mọi loại hình doanh nghiệp

Trong điều kiện như vậy, việc xây dựng luận cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp là nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn. Pháp luật về doanh nghiệp là một nội dung quan trọng của pháp luật kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, đang được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu. Ở các phạm vi và mức độ khác nhau, có một số công trình đã được công bố, đề cập đến một vài khía cạnh của pháp luật về doanh nghiệp.

3.2. Rà soát sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan đến doanh nghiệp

Một số công trình nghiên cứu dé cập vấn dé pháp điển hóa pháp luậtdoanh nghiệp, như: Nên có đạo luật chung cho tất cả các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh của PGS. Võ Thành Hiệu, Tạp chí tài chính số 11, 1997; Dự thảo Luật Doanh nghiệp - Một số vấn dé phương pháp luận của Nguyễn Như Phát, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5, 1999; Luật Doanh nghiệp chung: cần hay không cần ban hành? của Dương Đăng Huệ, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 05, 2004; Bàn về tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay của Bùi Ngọc Cường, Tạp chí Luật học, số 6, 2004.

IV. Giải pháp Pháp lý nâng cao hiệu quả hoạt động Doanh nghiệp

Để thực hiện mục đích trên, Luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau: Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về doanh nghiệppháp luật về doanh nghiệp; Phân tích những nội dung cơ bản của pháp luật về doanh nghiệp; đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của pháp luật Việt Nam hiện hành về doanh nghiệp; Đề xuất quan điểm định hướng và những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Đối tượng nghiên cứu của Luận án là: Các quan điểm, tư tưởng luật học về doanh nghiệppháp luật về doanh nghiệp; Các văn bản pháp luật thực định của Việt Nam về doanh nghiệp; Pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế về doanh nghiệp.

4.1. Đảm bảo tính minh bạch và khả năng tiếp cận pháp luật cho doanh nghiệp

Thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam. Pháp luật về doanh nghiệp là một lĩnh vực pháp luật có nội dung rộng và phức tạp. Luận án tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản trong pháp luật về tổ chức doanh nghiệp, đặc biệt là những nội dung có nhiều điểm bất cập, không đảm bảo tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp. Phạm vi nghiên cứu của Luận án được giới hạn không bao gồm vấn đề hợp tác xã và pháp luật về hợp tác xã.

4.2. Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính trong thành lập và giải thể doanh nghiệp

Mặc dù thực tiễn điều chỉnh pháp luật đối với hợp tác xã luôn gắn liền với hệ thống pháp luật vé chủ thể kinh doanh, song về cơ bản hop tác xã không thể hiện đầy đủ dấu hiệu bản chất của hình thức tổ chức kinh doanh theo đúng ý nghĩa đích thực của khái niệm pháp lý này. Luận án tiếp cận nghiên cứu vấn đề doannh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội (gọi tắt là doanh nghiệp đoàn thể) với quan điểm coi doanh nghiệp đoàn thể là loại hình công ty TNHH một thành viên, hiện đang được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp (1999).

V. Ứng dụng thực tiễn Tác động của Pháp luật đến Doanh nghiệp

Về lý luận cũng như thực tiễn, doanh nghiệp đoàn thể không phải là hình thức doanh nghiệp phổ biến và có vai trò đáng kể trong điều kiện kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp đoàn thể lần đầu tiên được quy định trong Quyết định số 268/CT ngày 30/7/1990 của Chủ tịch HĐBT (nay là Thủ tướng Chính phủ) về đăng ký và hoạt động của các tổ chức làm kinh tế do các cơ quan hành chính và các đoàn thể thành lập. Ngày 05/6/1992, Chủ tịch HĐBT đã ban hành Quyết định số 196/CT, theo đó tất cả các tổ chức kinh tế đã thành lập và đang hoạt động theo Quyết định số 268/CT ngày 30/7/1990 phải đăng ký lại theo các quy định của pháp luật thời gian này về các loại doanh nghiệp phù hợp (doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.

5.1. Nghiên cứu điển hình về tái cấu trúc doanh nghiệp theo quy định mới

Ngày 14/9/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2001/NĐ-CP, quy định vấn đề chuyển đổi doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành công ty TNHH một thành viên. Về nguyên tắc, kể từ khi Nghị định này có hiệu lực, các doanh nghiệp đoàn thể đã được xác định rõ bản chất là loại hình công ty TNHH một thành viên và được tổ chức hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp (1999). Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, như phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn.

5.2. Phân tích tác động của Luật Doanh nghiệp đến khởi nghiệp và đầu tư

Các phương pháp nghiên cứu trong Luận án được thực hiện trên nền tảng của phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên cơ sở các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Luận án có những đóng góp mới cơ bản sau: Xây dựng quan điểm pháp lý tiến bộ và hiện đại về chức năng, vai trò và đặc điểm của pháp luật về doanh nghiệp; xác định rõ vị trí và sự lệ thuộc của pháp luật về doanh nghiệp trong mối liên hệ với các lĩnh vực pháp luật khác của hệ thống pháp luật, đặc biệt là trong mối liên hệ với pháp luật dân sự, mà nền tảng là Bộ luật Dân sự;

VI. Tương lai Hoàn thiện Pháp luật Doanh nghiệp Hướng đi mới

Chỉ rõ những bất cập, đặc biệt là những nội dung lạc hậu, những mâu thuẫn nội tại của pháp luật hiện hành về doanh nghiệp, đang ảnh hưởng xấu đến quyền tự do, bình đẳng trong kinh doanh, làm giảm hiệu quả tổ chức vận hành doanh nghiệp của các nhà đầu tư; Đề xuất quan điểm tiến bộ và hiện đại về tiêu chí xác định hình thức pháp lý doanh nghiệp, để trên cơ sở đó quy định vấn đề tổ chức doanh nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và nhận thức phổ biến trên thế giới; Đề xuất giải pháp cấu trúc lại hệ thống pháp luật về doanh nghiệp đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật này, phù hợp với quan điểm xây dựng nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

6.1. Định hướng sửa đổi Luật Doanh nghiệp để hội nhập quốc tế

Kiến nghị giải pháp sửa đổi, bổ sung quy định về tổ chức các loại hình doanh nghiệp phổ biến và điển hình trong cơ chế thị trường, nhằm tạo sự rõ ràng, minh bạch của pháp luật về doanh nghiệp, đảm bảo cho các nhà đầu tư tổ chức vận hành hoạt động kinh doanh một các hiệu quả, tự do và bình đẳng. Những quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp được để xuất trong luận án có khả năng ứng dụng ngay để thiết lập sự thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp cả về nội dung và hình thức, phá tan sự mâu thuẫn nội tại của pháp luật về doanh nghiệp đã tồn tại ở Việt Nam trong nhiều năm qua.

6.2. Vai trò của tính minh bạch trong hệ thống pháp luật doanh nghiệp

Luận án tiếp cận nghiên cứu vấn đề doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội (gọi tắt là doanh nghiệp đoàn thể) với quan điểm coi doanh nghiệp đoàn thể là loại hình công ty TNHH một thành viên, hiện đang được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp (1999). Về lý luận cũng như thực tiễn, doanh nghiệp đoàn thể không phải là hình thức doanh nghiệp phổ biến và có vai trò đáng kể trong điều kiện kinh tế thị trường.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ luật học cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP 1.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm doanh nghiệp Với tính chất là một thực thể kinh tế - xã hội, doanh nghiệp là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa học pháp lý. Ở Việt Nam, pháp luật hiện hành sử dụng khái niệm doanh nghiệp để chỉ các chủ thể kinh doanh chủ yếu trong nền kinh tế. Tuy vậy, từ trước tới nay những vấn đề lý luận về doanh nghiệp ít được đề cập dưới giác độ của khoa học pháp lý.

Tác giả Nguyễn Am Hiểu đã nhận xét rằng, “doanh nghiệp là gì? Trong lịch sử câu hỏi này thường được khoa học kinh tế quan tâm hơn là khoa học pháp lý” [38, tr. Cũng có lẽ vì vậy mà xung quanh khái niệm doanh nghiệp cho đến nay vẫn còn nhiều vấn dé chưa được giải quyết triệt để cả trên phương diện lý luận cũng như luật thực định. Trong điều kiện như vậy, việc làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh nói chung và pháp luật về tổ chức doanh nghiệp nói riêng. Lý luận và thực tiễn đã chứng minh sự ra đời và phát triển một cách khách quan của hoạt động kinh doanh với tính chất là một nghề nghiệp trong xã hội.

Cũng như nhiều nghề nghiệp khác, nghề kinh doanh được tiến hành bởi những chủ thể nhất định và được tổ chức dưới những hình thức pháp lý nhất định. Trên bình diện khoa học, thuật ngữ được các nhà nghiên cứu sử dụng để định danh những người hành nghề kinh doanh là rất phong phú và đa dạng. Thực tiễn phát triển của khoa học pháp lý và pháp luật thực định trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã từng biết đến nhiều khái niệm để chỉ những người hành nghề kinh doanh như chủ thể kinh doanh, nhà kinh doanh, thương nhân, doanh nghiệp. mà không phải lúc nào nội hàm của các khái niệm này cũng được xác định rõ ràng và thống nhất.

Trong luận án 10 này, thuật ngữ doanh nghiệp được tiếp cận với tính chất một thuật ngữ khoa học để nghiên cứu mà không lệ thuộc vào việc có hay không có việc sử dụng thuật ngữ này trong pháp luật thực định ở mỗi quốc gia trong các thời kỳ khác nhau. Nền kinh tế thế giới đã trải qua nhiều phương thức sản xuất với các hình thức tổ chức kinh doanh khác nhau. Ở mỗi quốc gia và trong từng giai đoạn phát triển kinh tế, với những đặc điểm về chính trị, văn hóa, phong tục, tập quán., nghề kinh doanh có vị trí, vai trò và được nhìn nhận khác nhau, theo đó những chủ thể hành nghề kinh doanh được đối xử một cách không giống nhau trên cả phương diện quan niệm xã hội và pháp luật. Có lẽ xuất phát từ thực tế đó mà doanh nghiệp, dù tồn tại ở quốc gia nào trên thế giới, thì ngoài những đặc điểm chung vẫn luôn mang những nét đặc thù.

Về mặt ngữ vựng, doanh nghiệp (trong tiếng Anh là Enterprise) có nghĩa là công việc kinh doanh (business venture or undertaking) [77, tr. Tuy nhiên, trên thực tế khái niệm doanh nghiệp thường được dùng với nghĩa là hình thức tổ chức các hoạt động kinh doanh. Trong giới nghiên cứu, có quan điểm hiểu khái niệm doanh nghiệp với nội hàm rất rộng, bao gồm tất cả những chủ thể hành nghề kinh doanh (không phân biệt chủ thể đó là pháp nhân hay thể nhân): “Doanh nghiệp được hiểu là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh” [41, tr. 8]; “Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh được thành lập hợp pháp, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh và lấy hoạt động kinh doanh làm nghề nghiệp chính” [65, tr.

Theo quan điểm này, khái niệm doanh nghiệp được hiểu đồng nghĩa với khái niệm về chủ thể kinh doanh hay nhà kinh doanh. Quan điểm khác lại cho rằng doanh nghiệp chỉ bao gồm những chủ thể kinh doanh đáp ứng được những điều kiện nhất định (về cơ cấu tổ chức, tư cách pháp lý.): “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, tru sở giao dịch ổn định, được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh” [67, tr. Theo đó, doanh nghiệp chi là một loại chủ thể kinh doanh. Từ đó có thể suy luận lôgic, sẽ có những chủ thể là chủ thể kinh doanh (thực hiện nghề nghiệp kinh doanh) 1] nhưng không được coi là doanh nghiệp (đơn cử là nếu chủ thé kinh doanh đó không có trụ sở giao dịch ổn định).

Cách hiểu này có phần lệ thuộc vào các quy định của luật thực định hiện hành ở Việt Nam (Luật Doanh nghiệp năm 1999) khi xác định khái niệm doanh nghiệp. Bên cạnh đó cũng có quan điểm cho rằng, doanh nghiệp cần được hiểu theo hai nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Ở nghĩa rộng, doanh nghiệp là tất cả các “cơ sở sản xuất kinh doanh”; ở nghĩa hẹp, doanh nghiệp chỉ bao gồm các cơ sở kinh doanh thuộc khu vực chính thức (có đăng ký tư cách theo quy định của pháp luật), không tính các cơ sở thuộc khu vực phi kết cấu (non-structure) [40, tr. Quan điểm này cũng cho rằng, việc hiểu doanh nghiệp theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp có ý nghĩa quan trong trong việc hoạch định chính sách và thực hiện các chế độ quản lý của Nhà nước đối với các cơ sở kinh tế.

Khi phân tích một số vấn đề phương pháp luận về Dự thảo Luật Doanh nghiệp, tác giả Nguyễn Như Phát cho rằng “trong cơ chế thị trường hiện đại, đã và sẽ xuất hiện rất nhiều mô hình pháp lý của việc tổ chức các hoạt động kinh doanh mà ta quen gọi là doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa rằng, doanh nghiệp là khái niệm chung, không có nội hàm pháp lý cụ thể và không biểu hiện một mô hình pháp lý cụ thể của việc tổ chức và quản lý các hoạt động kinh tế, thương mại” [58, tr. Theo suy luận lôgic từ quan điểm này, việc đặt ra một định nghĩa pháp lý chung về doanh nghiệp trong pháp luật thực định là rất khó đảm bảo tính bao quát và ít có ý nghĩa thực tiễn. Ở một giác độ khác, lại có quan điểm cho rằng, doanh nghiệp là hiện tượng riêng có của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.

Đại diện cho quan điểm này là Gutenberg. Theo Gutenberg, xí nghiệp thì có cả trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và nền kinh tế thị trường, nhưng doanh nghiệp là một hiện tượng đặc biệt của kinh tế thị trường, vì chỉ ở đó mới có các đặc điểm cơ bản của các doanh nghiệp. Các đặc điểm đó là: (i) Nguyên tắc tự chủ; (ii) Nguyên tắc thu nhập kinh tế; (iii) Nguyên tắc sở hữu tư nhân và từ đó phát sinh quyền tự quyết định [79]. k2 Guttenberg đã xuất phát từ góc độ điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp để khẳng định tính riêng có của doanh nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường.

Với quan điểm này, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung sẽ không bao hàm các yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Các đơn vị kinh tế trong cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung như: nông, lâm trường quốc doanh, xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, xí nghiệp liên hợp hay liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh. không có cùng bản chất với doanh nghiệp. Quan điểm khoa học có ảnh hưởng nhất định đến nội dung luật pháp.

Trên thế giới hiện nay có nhiều trường phái pháp luật về doanh nghiệp. Pháp luật đa số các nước quan niệm doanh nghiệp chỉ là những chủ thể kinh doanh thuần túy (có nghề nghiệp chính là hoạt động kinh doanh). Tuy nhiên, ở một số nước (Cộng hòa Liên bang Đức là một ví dụ), doanh nghiệp được hiểu không chỉ bao gồm các chủ thể kinh doanh thuần túy (thương gia), mà còn bao gồm cả những tổ chức kinh tế hoạt động vì mục tiêu công ích. Theo pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức, "doanh nghiệp bao gồm doanh nghiệp thành lập theo luật công và doanh nghiệp thành lập theo luật tư.

Khi phân biệt hai loại doanh nghiệp này, người ta dựa trên cơ sở phân chia theo trật tự pháp luật công và pháp luật tư. Doanh nghiệp theo luật công có thể là: xí nghiệp trực thuộc, những thực thể chính quyền, đơn vị sự nghiệp" [8O, tr. Tuy nhiên, pháp luật Đức có sự phân biệt rõ ràng trong cơ chế điều chỉnh pháp luật về tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp thành lập theo luật công và các doanh nghiệp thành lập theo luật tư. Cơ sở của sự phân biệt này là chức năng và mục đích hoạt động của hai loại doanh nghiệp có sự khác nhau.

Doanh nghiệp thành lập theo luật công có chức năng chủ yếu là hoạt động công ích; trong khi đó, các doanh nghiệp thành lập theo luật tư có chức năng chủ yếu là hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận. Qua nghiên cứu cho thấy, về mặt thực tiễn, hầu hết các nước trên thế giới đều tồn tại những tổ chức kinh tế công (thông thường do nhà nước đầu tư vốn) giống như ở Cộng hòa Liên bang Đức, song thông thường những tổ chức này không được coi là doanh nghiệp, hay chí ít thì cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với chúng cũng khác với những doanh nghiệp kinh doanh thuần túy. 13 Đối với những doanh nghiệp kinh doanh thuần túy, hình thức pháp lý của chúng được luật pháp quy định rất đa dạng. Luật pháp các nước thông thường không quy định khái niệm chung về doanh nghiệp, mà chỉ đưa ra định nghĩa pháp lý về từng loại hình doanh nghiệp cụ thể.

Thực tiễn pháp luật các nước phản ánh một quan điểm phổ biến coi doanh nghiệp là tất cả các đơn vị kinh doanh hợp pháp; khái niệm doanh nghiệp (Enterprise) dường như đồng nghĩa với khái niệm chủ thể kinh doanh (Business Entity), theo đó, doanh nghiệp là các chủ thể pháp luật (cá nhân hoặc pháp nhân), được thành lập theo quy định của pháp luật để tiến hành hoạt động kinh doanh. Khác với nhiều nước trên thế giới, pháp luật hiện hành ở Việt Nam có đưa ra định nghĩa pháp lý về doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp tư nhân (1990), Luật Công ty (1990) mà sau đó được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp (1999), là các văn bản đưa ra định nghĩa chính thức về doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình pháp luật doanh nghiệp hiện tại tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện và hoàn thiện hệ thống pháp lý này. Tác giả phân tích những thách thức mà doanh nghiệp đang phải đối mặt, từ đó đưa ra những khuyến nghị cụ thể để nâng cao tính hiệu quả và minh bạch trong quản lý doanh nghiệp.

Đối với những ai quan tâm đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, tài liệu này có thể liên kết hữu ích với bài viết Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và khoáng sản flc stone, nơi bàn về các phương pháp cải thiện nguồn nhân lực. Ngoài ra, nếu bạn muốn tìm hiểu về các giải pháp pháp lý trong lĩnh vực tài chính, bài viết Giải pháp nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế tại công ty cổ phần cổ bản sẽ cung cấp thêm thông tin quý giá. Cuối cùng, để có cái nhìn tổng quát hơn về thực trạng doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế hiện nay, bạn có thể tham khảo bài viết Thực trạng áp dụng bảo hộ thương mại đối với da giày việt nam trong khủng hoảng hiện na.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về các vấn đề pháp lý và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam.