Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Đồng Ngọc Ba thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (thuộc Bộ Tư pháp và Bộ Giáo dục và Đào tạo), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Như Phát và TS. Nguyễn Am Hiểu, bảo vệ năm 2005 thuộc chuyên ngành Luật kinh tế (mã số: 62.01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật. Quyền tự do và bình đẳng này chỉ thực sự được bảo đảm dựa trên một hệ thống pháp luật hoàn thiện, trước hết là pháp luật về tổ chức doanh nghiệp. Ở giai đoạn đầu của quá trình đổi mới cơ chế kinh tế tại Việt Nam, pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh nói riêng được xây dựng dựa trên những đặc thù chính trị, kinh tế - xã hội mang tính chất giải pháp tình thế nhằm tháo gỡ các vấn đề bức xúc từ thực tiễn kinh doanh.

Mặc dù các văn bản pháp luật về doanh nghiệp gia tăng nhanh chóng về số lượng và hình thức văn bản, chất lượng quy định vẫn còn nhiều điểm khác biệt và thiếu đồng bộ. Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999 đánh dấu bước phát triển với tư duy pháp lý mới. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành về doanh nghiệp giai đoạn này vẫn bộc lộ nhiều bất cập cả về nội dung pháp lý lẫn kỹ thuật lập pháp; tình trạng phức tạp, mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản làm phân bổ nguồn lực không hợp lý và cản trở môi trường kinh doanh bình đẳng. Khi Quốc hội khóa XI (nhiệm kỳ 2002-2007) đưa dự án Luật Doanh nghiệp chung áp dụng cho mọi thành phần kinh tế vào chương trình xây dựng luật, giới nghiên cứu và lập pháp vẫn tồn tại nhiều luồng quan điểm trái chiều về sự cần thiết, tính khả thi cũng như phương thức pháp điển hóa. Do đó, việc xây dựng cơ sở khoa học để hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp là nhiệm vụ cấp bách cả về lý luận và thực tiễn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích bao trùm của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về doanh nghiệp và pháp luật về doanh nghiệp.
  2. Phân tích những nội dung cơ bản của pháp luật về doanh nghiệp; đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của pháp luật Việt Nam hiện hành về doanh nghiệp.
  3. Đề xuất quan điểm định hướng và những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, tư tưởng luật học về doanh nghiệp và pháp luật về doanh nghiệp; các văn bản pháp luật thực định của Việt Nam; pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế về doanh nghiệp; thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật về doanh nghiệp tại Việt Nam. Luận án tập trung vào nội dung cơ bản trong pháp luật về tổ chức doanh nghiệp, đặc biệt là các quy định bất cập, thiếu thống nhất.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không bao gồm hợp tác xã và pháp luật về hợp tác xã. Theo luận giải của tác giả, mặc dù hợp tác xã gắn liền với hệ thống pháp luật về chủ thể kinh doanh, nhưng hợp tác xã là thiết chế kinh tế - xã hội mang tính cộng đồng sâu sắc, hoạt động theo các nguyên tắc dân chủ và tương trợ (dựa trên 6 nguyên tắc của Liên minh Hợp tác xã quốc tế xác định cho thế kỷ XXI), mục tiêu không thuần túy là tối đa hóa lợi nhuận. Theo Điều 1 Luật Hợp tác xã năm 2003, hợp tác xã chỉ hoạt động "như một loại hình doanh nghiệp". Thực tiễn đến ngày 31/6/2002, cả nước có 10.311 hợp tác xã (trong đó 80% là hợp tác xã nông nghiệp, chiếm 72,4% tổng vốn kinh doanh hợp tác xã).
    • Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (doanh nghiệp đoàn thể) được tiếp cận dưới bản chất là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 sau khi trải qua quá trình điều chỉnh từ Quyết định số 268/CT ngày 30/7/1990, Quyết định số 196/CT ngày 05/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Nghị định số 63/2001/NĐ-CP ngày 14/9/2001 của Chính phủ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu đã công bố theo hai nhóm hướng tiếp cận chính:

Nhóm nghiên cứu về pháp điển hóa và đạo luật chung về doanh nghiệp

  • PGS. Võ Thành Hiệu (1997), "Nên có đạo luật chung cho tất cả các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh", Tạp chí Tài chính, số 11.
  • TS. Nguyễn Như Phát (1999), "Dự thảo Luật Doanh nghiệp - Một số vấn đề phương pháp luận", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5.
  • Dương Đăng Huệ (2004), "Luật Doanh nghiệp chung: cần hay không cần ban hành?", Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 05.
  • Bùi Ngọc Cường (2004), "Bàn về tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay", Tạp chí Luật học, số 6.

Các công trình này tập trung luận giải tính hợp lý và khả thi của việc ban hành một đạo luật chung điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp, tuy nhiên chủ yếu dừng lại ở khía cạnh hình thức văn bản pháp luật mà chưa đi sâu giải quyết nội dung các quy định về tổ chức doanh nghiệp.

Nhóm nghiên cứu về từng loại hình doanh nghiệp và nội dung pháp lý cụ thể

  • ThS. Nguyễn Thị Thu Vân (1998), Một số vấn đề về công ty và hoàn thiện pháp luật về công ty, Nxb Chính trị quốc gia.
  • Đồng Ngọc Ba (2000), Công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án Thạc sĩ luật học.
  • Nguyễn Trí Tuệ (2003), Địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, Luận án Tiến sĩ luật học.
  • Trần Ngọc Liêm (2002), Hoàn thiện pháp luật về các loại hình công ty trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học.
  • Nguyễn Thanh Hóa (2002), Luận án Tiến sĩ luật học.
  • Dương Đăng Huệ (1994), "Pháp luật về việc cấp Giấy phép thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh ở Việt Nam - Thực trạng và một vài kiến nghị", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4.
  • TS. Nguyễn Am Hiểu (2003), "Hình thức pháp lý doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ luật so sánh", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4.

Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án

Các công trình nêu trên tiếp cận từng bộ phận riêng lẻ cấu thành của pháp luật doanh nghiệp. Tại thời điểm năm 2005, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về doanh nghiệp và pháp luật về doanh nghiệp nói chung ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học, nhằm thiết lập cơ sở khoa học cho sự thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật doanh nghiệp Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Nền tảng tư tưởng: Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Lý thuyết về bản chất kinh tế - xã hội và pháp lý của doanh nghiệp:
    • Lý thuyết của Gutenberg về đặc thù của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường dựa trên 3 nguyên tắc: nguyên tắc tự chủ, nguyên tắc thu nhập kinh tế, và nguyên tắc sở hữu tư nhân dẫn tới quyền tự quyết định.
    • Quan niệm phân chia luật công - luật tư của Cộng hòa Liên bang Đức (phân định doanh nghiệp thành lập theo luật công nhằm mục đích công ích và doanh nghiệp thành lập theo luật tư nhằm mục đích sinh lợi; nguyên tắc phân tách tài sản độc lập theo Friedrich Kuebler).
    • Khung phân tích về chi phí giao dịch và bản chất kinh tế của doanh nghiệp theo Phạm Duy Nghĩa.
    • Lý thuyết về bản chất công ty, trách nhiệm vô hạn và trách nhiệm hữu hạn, nguyên tắc "vén màn công ty" (Veil Piercing) trong luật so sánh.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các khái niệm, quy định pháp luật thực định và học thuyết pháp lý để rút ra các đặc trưng bản chất của doanh nghiệp và cấu trúc hệ thống pháp luật.
  • Phương pháp luật so sánh và đối chiếu: So sánh hệ thống Thông pháp (Anh, Mỹ), hệ thống Châu Âu lục địa (Cộng hòa Liên bang Đức) và hệ thống pháp luật Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với pháp luật Việt Nam về việc phân loại và điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp.
  • Phương pháp thống kê: Sử dụng số liệu thực tế về số lượng hợp tác xã, cơ cấu doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH tại Việt Nam và Trung Quốc để chứng minh cho các luận điểm lập pháp.
  • Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: Đối chiếu quy định pháp luật với thực tiễn áp dụng và vận hành của các mô hình kinh doanh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về doanh nghiệp và pháp luật về doanh nghiệp

Chương 1 xây dựng hệ thống lý luận nền tảng về khái niệm, phân loại doanh nghiệp và cấu trúc pháp luật điều chỉnh doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

1. Khái niệm doanh nghiệp

Tác giả phân tích doanh nghiệp dưới hai giác độ:

  • Góc độ kinh tế - xã hội: Doanh nghiệp là thực thể xã hội, thành tố cơ bản của hệ thống kinh tế - xã hội, ra đời gắn liền với sự phát triển của phân công lao động xã hội và nền sản xuất hàng hóa. Doanh nghiệp thực hiện chức năng kinh doanh mang tính nghề nghiệp, hướng tới mục tiêu sinh lợi.
  • Góc độ pháp lý: Doanh nghiệp là một loại chủ thể pháp luật có tính độc lập tương đối với chủ sở hữu, được thành lập và đăng ký kinh doanh theo thủ tục luật định, lấy hoạt động kinh doanh làm nghề nghiệp chính (thực hiện có hệ thống, liên tục, nhân danh chính mình và mang ý định tìm kiếm lợi nhuận). Luận án nhấn mạnh rằng ý định sinh lợi mới là dấu hiệu bản chất, không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có đạt được lợi nhuận trên thực tế hay không.

2. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp

Luận án tổng kết 4 phương pháp phân loại pháp lý chủ yếu:

  1. Theo tính chất sở hữu và mục đích hoạt động: Doanh nghiệp tư (hoạt động kinh doanh thuần túy vì lợi nhuận) và doanh nghiệp công (phục vụ mục tiêu công ích hoặc có sự chi phối của nhà nước).
  2. Theo cơ cấu nhà đầu tư và phương thức góp vốn: Doanh nghiệp một chủ sở hữu (cá nhân hoặc tổ chức) và doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu (công ty).
  3. Theo tư cách pháp lý: Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân.
  4. Theo chế độ trách nhiệm tài sản: Chế độ trách nhiệm vô hạn (chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của chủ sở hữu) và chế độ trách nhiệm hữu hạn (chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp/cổ phần).
Tiêu chí phân loại Các hình thức cụ thể Đặc trưng pháp lý cơ bản
Cơ cấu chủ sở hữu Doanh nghiệp một chủ Thuộc sở hữu của 1 cá nhân hoặc 1 tổ chức; quản lý tập trung nhưng khó kiểm soát nội bộ
Doanh nghiệp nhiều chủ (Công ty) Tạo lập một tư cách chủ thể mới từ sự liên kết vốn của nhiều nhà đầu tư
Tư cách pháp lý Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân Có sự tách bạch tài sản độc lập, tự chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài sản
Doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân Không tách bạch hoàn toàn tài sản chủ sở hữu và doanh nghiệp (DNTN, hợp danh)
Trách nhiệm tài sản Trách nhiệm vô hạn Chủ sở hữu chịu trách nhiệm đến cùng đối với các khoản nợ ("nợ bao nhiêu trả bấy nhiêu")
Trách nhiệm hữu hạn Trách nhiệm tài sản giới hạn trong phạm vi phần vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp

3. Kinh nghiệm quốc tế về các loại hình doanh nghiệp

  • Hệ thống Thông pháp (Anh, Mỹ): Phân chia thành hãng kinh doanh (business entities - chịu trách nhiệm vô hạn, không có tư cách pháp nhân) và công ty (Company, Corporation). Hình thức cá nhân kinh doanh là phổ biến và đơn giản nhất.
  • Hệ thống Châu Âu lục địa (Cộng hòa Liên bang Đức): Áp dụng nguyên tắc phân tách tài sản độc lập (Trennungsprinzip) đối với công ty TNHH theo Friedrich Kuebler. Phân định rạch ròi giữa doanh nghiệp thành lập theo luật công và doanh nghiệp thành lập theo luật tư.
  • Pháp luật Trung Quốc: Quá trình cải cách chuyển đổi cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa thể hiện qua việc "công ty hóa" doanh nghiệp nhà nước theo Luật Công ty năm 1993; điều chỉnh hợp danh bằng Luật Hợp danh năm 1993; phân biệt hộ cá thể (theo Quy định tạm thời năm 1987, giới hạn dưới 8 lao động) và doanh nghiệp cá thể (theo Luật Doanh nghiệp cá thể năm 1993); và xu hướng nhất thể hóa pháp luật đầu tư trong nước và nước ngoài sau khi gia nhập WTO.
  • Đánh giá bản chất các mô hình phổ biến:
    • Cá nhân kinh doanh: Đơn giản, linh hoạt nhưng mang rủi ro trách nhiệm vô hạn.
    • Hợp danh và hợp danh hữu hạn: Mang tính chất đối nhân; ưu điểm về sự linh hoạt (flexibility), bảo mật thông tin (secrecy) và ưu đãi thuế (đánh thuế trực tiếp vào thành viên); nhược điểm là rủi ro liên đới vô hạn của thành viên hợp danh, thiếu bền vững (lack of permanence), hạn chế huy động vốn ngoài công chúng.
    • Công ty đối vốn (TNHH, Cổ phần): Tách biệt tài sản, hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư, tự chủ cao, nhưng tiềm ẩn rủi ro cho bên thứ ba, đòi hỏi các cơ chế kiểm soát như "vén màn công ty" (Veil Piercing).

Chương 2: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam

Chương 2 phân tích thực trạng hệ thống pháp luật thực định của Việt Nam tại thời điểm năm 2005 qua các nhóm nội dung:

                  HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM (2005)
Doanh nghiệp      Doanh nghiệp tư nhân,           Doanh nghiệp có     Hộ kinh doanh
Nhà nước          Công ty (Hợp danh,              vốn đầu tư          cá thể
(Luật DNNN 2003)   TNHH, Cổ phần)                  nước ngoài          (Nghị định
                  (Luật Doanh nghiệp 1999)        (Luật ĐTNN 1996,     109/2004/NĐ-CP)
                                                   2000)

1. Cấu trúc hệ thống pháp luật phân tán theo hình thức sở hữu

Hệ thống pháp luật điều chỉnh doanh nghiệp tại Việt Nam được thiết kế dựa trên tiêu chí sở hữu và thành phần kinh tế, dẫn đến sự phân tán trong nhiều đạo luật khác nhau:

  • Doanh nghiệp nhà nước điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 (trước đó là năm 1995).
  • Doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh của khu vực tư nhân điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp năm 1999.
  • Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài điều chỉnh bởi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2000).

Sự phân mảnh này tạo ra sự bất bình đẳng về điều kiện gia nhập thị trường, quyền tự chủ kinh doanh và cơ chế quản trị giữa các khu vực kinh tế.

2. Bất cập trong các quy định cụ thể về từng loại hình doanh nghiệp

  • Doanh nghiệp tư nhân: Luật Doanh nghiệp năm 1999 chưa phân định nhất quán giữa tư cách cá nhân chủ doanh nghiệp và tư cách pháp lý của doanh nghiệp (Khoản 2 Điều 23 quy định tài sản không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu; Khoản 2 Điều 101 quy định chủ doanh nghiệp là nguyên đơn/bị đơn trong tố tụng, nhưng Điều 7 và Điều 8 lại quy định quyền và nghĩa vụ cho chính "doanh nghiệp tư nhân").
  • Hộ kinh doanh cá thể: Bị phân biệt đối xử với doanh nghiệp tư nhân dựa trên tiêu chí quy mô lao động (dưới 10 lao động, đăng ký tại 1 địa điểm, không có con dấu theo Nghị định số 109/2004/NĐ-CP), tạo ra sự bất hợp lý trong địa vị pháp lý kinh doanh.
  • Công ty hợp danh: Khái niệm công ty hợp danh tại Điều 95 Luật Doanh nghiệp năm 1999 bao hàm cả thành viên góp vốn (bản chất của hợp danh hữu hạn), khiến nội hàm rộng hơn so với thông lệ quốc tế và gộp lẫn giữa công ty hợp danh thuần túy với công ty hợp vốn đơn giản.
  • Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Điều 46 Luật Doanh nghiệp năm 1999 chỉ giới hạn chủ thể thành lập là tổ chức, chưa mở rộng cho cá nhân làm chủ sở hữu, hạn chế nhu cầu phân tán rủi ro hợp pháp của thể nhân.
  • Hạn chế của doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân: Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 (Điều 2) yêu cầu hợp đồng kinh tế phải có ít nhất một bên là pháp nhân; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 (Điều 1) chỉ quy định quyền khởi kiện cho cá nhân hoặc pháp nhân, gây trở ngại cho các tổ chức kinh doanh không có tư cách pháp nhân (như công ty hợp danh).
  • Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Chủ yếu bị bó hẹp trong mô hình công ty TNHH. Mặc dù Nghị định số 38/2003/NĐ-CP ngày 15/4/2003 đã mở đường cho phép chuyển đổi một số doanh nghiệp FDI sang công ty cổ phần, phạm vi áp dụng vẫn mang tính thí điểm và hạn chế.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam

Chương 3 xây dựng định hướng và hệ thống giải pháp lập pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý về doanh nghiệp.

1. Quan điểm và định hướng hoàn thiện

  • Chuyển đổi căn bản tiêu chí phân loại doanh nghiệp từ "dựa trên hình thức sở hữu/thành phần kinh tế" sang "dựa trên phương thức đầu tư vốn và trách nhiệm pháp lý".
  • Xây dựng một đạo luật chung điều chỉnh thống nhất về mặt tổ chức cho mọi loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (Luật Doanh nghiệp chung).
  • Tôn trọng quyền tự do kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính gia nhập thị trường và bảo đảm sự bình đẳng tuyệt đối giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
  • Xác định rõ mối quan hệ giữa pháp luật doanh nghiệp với luật tư, lấy Bộ luật Dân sự làm nền tảng pháp lý chung cho các quan hệ tài sản và hợp đồng.

2. Các nhóm giải pháp chủ yếu

  1. Tái cấu trúc hệ thống pháp luật doanh nghiệp:
    • Ban hành Luật Doanh nghiệp chung thay thế cho sự phân tán của Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 và các quy định về tổ chức trong Luật Đầu tư nước ngoài.
    • Thống nhất cơ chế đăng ký kinh doanh và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.
  2. Hoàn thiện quy định về các mô hình tổ chức doanh nghiệp:
    • Doanh nghiệp tư nhân: Làm rõ bản chất là hình thức cá nhân kinh doanh, thống nhất quy chế trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp.
    • Công ty TNHH: Mở rộng quyền thành lập công ty TNHH một thành viên cho cả chủ thể là cá nhân; hoàn thiện cơ chế chuyển nhượng vốn góp theo Điều 32 Luật Doanh nghiệp 1999.
    • Công ty cổ phần: Bổ sung và cụ thể hóa các quy định bảo vệ cổ đông thiểu số, thiết lập chế định "vén màn công ty" (Veil Piercing) để xử lý các hành vi lừa dối chủ nợ hoặc tẩu tán tài sản gây thiệt hại cho người thứ ba.
    • Công ty hợp danh: Tách bạch rõ ràng giữa loại hình hợp danh thông thường (chỉ gồm các thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn) và hợp danh hữu hạn (có thêm thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu hạn).
    • Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Áp dụng đầy đủ các hình thức công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh bình đẳng như các nhà đầu tư trong nước.
  3. Hoàn thiện mối liên hệ giữa pháp luật nội dung và tố tụng:
    • Sửa đổi các quy định pháp luật dân sự, kinh tế và tố tụng nhằm bảo đảm quyền ký kết hợp đồng và quyền khởi kiện độc lập tại Tòa án cho mọi chủ thể kinh doanh, khắc phục rào cản từ Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định các đóng góp mới chủ yếu về mặt khoa học pháp lý và thực tiễn lập pháp bao gồm:

  1. Xây dựng quan điểm pháp lý về chức năng, vai trò của pháp luật doanh nghiệp: Xác định rõ vị trí của pháp luật doanh nghiệp trong mối liên hệ với các lĩnh vực khác của hệ thống pháp luật, đặc biệt là sự lệ thuộc và gắn kết với pháp luật dân sự mà nền tảng là Bộ luật Dân sự.
  2. Chỉ rõ những bất cập và mâu thuẫn nội tại: Làm sáng tỏ các quy định lạc hậu của pháp luật thực định đang làm suy giảm quyền tự do, bình đẳng trong kinh doanh và giảm hiệu quả tổ chức vận hành doanh nghiệp của các nhà đầu tư.
  3. Đề xuất tiêu chí xác định hình thức pháp lý doanh nghiệp: Chuyển đổi căn bản từ tiêu chí hình thức sở hữu sang tiêu chí phương thức đầu tư vốn và mức độ chịu trách nhiệm tài sản, phù hợp với điều kiện Việt Nam và thông lệ quốc tế.
  4. Đề xuất giải pháp cấu trúc lại hệ thống pháp luật doanh nghiệp: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho việc xây dựng một đạo luật doanh nghiệp thống nhất, xóa bỏ sự chia cắt theo thành phần kinh tế trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.
  5. Kiến nghị giải pháp sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể về từng loại hình doanh nghiệp: Hoàn thiện các chế định về công ty cổ phần, công ty TNHH (bao gồm TNHH một thành viên là cá nhân), công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm tăng cường tính minh bạch và bảo vệ quyền lợi của người thứ ba.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Luận án không đi sâu nghiên cứu chế định hợp tác xã do xác định hợp tác xã là thiết chế kinh tế - xã hội đặc thù mang tính tương trợ cộng đồng, không thuần túy là doanh nghiệp kinh doanh sinh lợi. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng đánh giá mối quan hệ tương hỗ giữa pháp luật hợp tác xã và pháp luật doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều thành phần.
  • Giới hạn về loại hình doanh nghiệp đoàn thể: Luận án tiếp cận doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội dưới góc độ công ty TNHH một thành viên mà không tách thành một chế định riêng biệt.
  • Bối cảnh thời gian nghiên cứu: Công trình được hoàn thành năm 2005, trước thời điểm Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đầu tư năm 2005. Do đó, các đánh giá thực trạng phản ánh hệ thống văn bản pháp luật hiện hành giai đoạn 1990-2004 (Luật Doanh nghiệp 1999, Luật DNNN 2003, Luật ĐTNN 1996/2000, BLDS 1995).

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ việc soạn thảo, thẩm tra dự thảo Luật Doanh nghiệp thống nhất áp dụng cho mọi thành phần kinh tế, cũng như việc sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư và đăng ký kinh doanh.
  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật kinh tế, Luật Dân sự: Cung cấp khung lý thuyết về bản chất pháp lý của doanh nghiệp, các tiêu chí phân loại tổ chức kinh doanh và phương pháp nghiên cứu luật so sánh đối với các hệ thống pháp luật điển hình (Thông pháp, Châu Âu lục địa, Trung Quốc).
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo luật: Tài liệu phục vụ giảng dạy các học phần Luật Thương mại, Pháp luật về chủ thể kinh doanh và Quản trị doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án không đưa hợp tác xã vào phạm vi nghiên cứu chính về pháp luật doanh nghiệp?

Theo luận giải của tác giả tại phần Mở đầu, hợp tác xã theo quan điểm quốc tế (xác định bởi Liên minh Hợp tác xã quốc tế) và pháp luật Việt Nam (Điều 1 Luật Hợp tác xã năm 2003) là một thiết chế kinh tế - xã hội mang tính cộng đồng sâu sắc. Hoạt động của hợp tác xã tuân thủ nguyên tắc dân chủ (phổ thông đầu phiếu), tương trợ xã viên và đáp ứng nhu cầu đời sống thay vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận như doanh nghiệp kinh doanh thuần túy. Thống kê đến ngày 31/6/2002 cho thấy khoảng 80% hợp tác xã tại Việt Nam là hợp tác xã nông nghiệp. Do đó, việc không xem hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh thuần túy là có cơ sở khoa học.

2. Sự khác biệt cơ bản giữa việc phân loại doanh nghiệp theo tiêu chí sở hữu và tiêu chí phương thức đầu tư vốn là gì?

  • Phân loại theo sở hữu chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; cách này mang tính giải pháp tình thế của thời kỳ đầu đổi mới, dẫn đến sự phân biệt đối xử và chia cắt hệ thống pháp luật.
  • Phân loại theo phương thức đầu tư vốn và mức độ chịu trách nhiệm tài sản chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp một chủ, công ty đối nhân (hợp danh), công ty đối vốn (TNHH, cổ phần); cách tiếp cận này bảo đảm tính bình đẳng giữa các nhà đầu tư không phân biệt thành phần kinh tế, phù hợp với bản chất kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế.

3. Những hạn chế pháp lý của hình thức công ty hợp danh theo phân tích của luận án là gì?

Theo Chương 1, công ty hợp danh có các hạn chế: (i) Mức độ rủi ro tài sản cao đối với thành viên hợp danh do áp dụng quy chế trách nhiệm vô hạn và liên đới; (ii) Tính kém bền vững (lack of permanence) do sự thay đổi, phá sản hoặc cái chết của một thành viên có thể làm giải thể tổ chức; (iii) Hạn chế về khả năng huy động vốn và mở rộng quy mô do không được phát hành chứng khoán ra công chúng; (iv) Khó khăn trong việc chuyển nhượng phần vốn góp cho người ngoài hợp danh; (v) Thành viên hợp danh bị hạn chế trong việc giao kết hợp đồng độc lập hoặc khởi kiện chính tổ chức hợp danh.

4. Luận án chỉ ra điểm bất cập nào trong quy định của Luật Doanh nghiệp năm 1999 về công ty TNHH một thành viên?

Điều 46 Luật Doanh nghiệp năm 1999 lần đầu tiên ghi nhận loại hình công ty TNHH một thành viên nhưng chỉ cho phép chủ sở hữu là "tổ chức" được quyền thành lập. Luận án chỉ ra rằng quy định này hạn chế quyền của cá nhân trong việc phân tán rủi ro và đầu tư kinh doanh dưới hình thức trách nhiệm hữu hạn một chủ, chưa đáp ứng đầy đủ đòi hỏi thực tiễn và xu hướng lập pháp tiến bộ trên thế giới.


Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Đồng Ngọc Ba là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp tại Việt Nam tại thời điểm năm 2005. Tác giả đã luận giải sâu sắc bản chất kinh tế - xã hội và pháp lý của doanh nghiệp, chỉ rõ những bất cập bắt nguồn từ việc phân chia khung pháp lý theo hình thức sở hữu, đồng thời đề xuất giải pháp nhất thể hóa hệ thống pháp luật bằng một đạo luật chung áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế. Các luận điểm khoa học trong luận án đã đóng góp cơ sở lý luận quan trọng cho tiến trình đổi mới thể chế kinh tế và hoàn thiện pháp luật kinh doanh tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.