CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XÂY LẮP VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH XÂY LẮP I. ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG, VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XÂY LẮP 1. Đặc điểm và nội dung của ngành xây lắp - Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ. - Ngành xây lắp có tính lưu động cao, thiếu tính ổn định và thường xuyên phải di chuyển từ vùng này sang vùng khác do sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (máy móc, thiết bị thi công, người lao động…) phải di chuyển đến địa điểm công trình xây lắp.
Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mất mát, hư hỏng… Do đó, nảy sinh nhiều chi phí cho việc di chuyển máy móc, thiết bị xây dựng tới nơi thi công. Chính vì vậy, các doanh nghiệp xây lắp phải trang bị những máy móc thiết bị có tính cơ động cao, nhưng cần chú ý phân bổ lực lượng sản xuất theo lãnh thổ hợp lý để có thể tiến hành điều động linh hoạt các thiết bị từ vùng lãnh thổ này sang vùng lãnh thổ khác đạt hiệu quả cao. - Sản phẩm của ngành xây lắp là những công trình xây dựng (các tòa nhà cao tầng, cầu cống, đường xá…), các vật kiến trúc… có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian từ khi khởi công đến khi hoàn thành công trình bàn giao đưa vào sử dụng thường kéo dài. Thời gian này phụ thuộc vào quy mô, tính 5 phức tạp về kỹ thuật của từng công trình.
Thông thường, thời gian sản xuất có thể từ 3-5 năm hoặc nhiều hơn. Quá trình sản xuất lại gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc thường diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường như nắng, mưa, lũ lụt…Thời gian xây lắp dài nhưng thời gian sử dụng các công trình xây lắp rất dài, từ vài chục đến vài trăm năm. Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý, giám sát chặt chẽ sao cho bảo đảm chất lượng công trình đúng như thiết kế, dự toán là điều rất cần thiết. Trong quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo, đồng thời phải mua bảo hiểm cho công trình xây lắp để đảm bảo cho việc thi công các công trình được diễn ra bình thường không bị gián đoạn.
- Ngành xây lắp có tính cá biệt cao được thể hiện ở các mặt: Các phương án về công nghệ thi công và tính chất xây dựng thường xuyên phải biến đổi sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của từng công trình như: Thời tiết, khí hậu, nhu cầu sử dụng của từng nhà đầu tư…do đó các sản phẩm xây lắp mang tính đơn chiếc cao, rất khó áp dụng các mẫu thiết kế điển hình cho tất cả các phương án thi công. Mà đòi hỏi phải bỏ chi phí để nghiên cứu, tìm hiểu trước - Ngành xây lắp phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết khí hậu tại khu vực tiến hành xây dựng, do đó lao động trong xây dựng là rất vất vả. Khi lập kế hoạch sản xuất doanh nghiệp xây lắp cần phải chú ý đến đặc điểm điều kiện thời tiết khí hậu của khu vực xây dựng để có các biện pháp kỹ thuật can thiệp kịp thời nhằm đảm bảo chất lượng công trình và thời gian thi công. - Một đặc điểm nữa của ngành xây lắp là trong một công trình có nhiều lực lượng lao động, nhiều công ty cùng tham gia, hợp tác và ảnh hưởng trực tiếp tới thời gian và chất lượng sản phẩm xây lắp.
Vì vậy, hoạt động quản lý xây dựng hết sức khó khăn, đòi hỏi các bên phải luôn tôn trọng hợp đồng, không được gây chậm trễ cản trở lẫn nhau. Hiệu quả kinh doanh xây lắp và nâng cao hiệu quả kinh doanh xây lắp Hiệu quả kinh doanh xây lắp là một phạm trù kinh tế, một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, phản ánh những lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh xây lắp trên cơ sở so sánh lợi ích thu được với chi phí bỏ ra xây lắp công trình trong suốt quá trình kinh doanh xây lắp của doanh nghiệp. Dưới góc độ này chúng ta có thể xác định hiệu quả kinh doanh cụ thể bằng các phương pháp định lượng thành các chỉ tiêu hiệu quả cụ thể và từ đó có thể so sánh tính toán được, lúc này phạm trù hiệu quả kinh doanh là một phạm trù cụ thể nó đồng nhất và là biểu hiện trực tiếp của lợi nhuận, doanh thu… Ngoài ra nó còn biểu hiện mức độ phát triển doanh nghiệp theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong sản xuất nhằm thực hiện được mục tiêu kinh doanh. Lúc này, phạm trù hiệu quả kinh doanh lại là một phạm trù trừu tượng và nó phải được định tính thành mức độ quan trọng hoặc vai trò của nó trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Nói một cách khác, ta có thể hiểu hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh trình độ và khả năng quản lý của doanh nghiệp. Lúc này hiệu quả kinh doanh thống nhất với hiệu quả quản lý doanh nghiệp. Dưới góc độ này thì hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ và khả năng kết hợp các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất. Trong thực tế, hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp đạt được trong các trường hợp sau: Kết quả tăng, chi phí giảm Kết quả tăng, chi phí tăng nhưng tốc độ tăng của chi phí nhỏ hơn tốc độ tăng của kết quả.
Nói tóm lại ở tầm vĩ mô, hiệu quả kinh doanh phản ánh đồng thời các mặt của quá trình sản xuất kinh doanh: kết quả kinh doanh, trình độ sản xuất tổ chức, sản xuất và quản lý, trình độ sử dụng của yếu tố đầu vào… đồng thời 7 nó yêu cầu sự phát triển của doanh nghiêp theo chiều sâu. Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong thời kỳ. Sự phát triển tất yếu đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh, đây là mục tiêu cơ bản nhất của doanh nghiệp. Hiệu quả xã hội và hiệu quả chính trị: hiệu quả xã hội là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhằm đạt các mục tiêu xã hội nhất định.
Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc dân thì hiệu quả xã hội và hiệu quả chính trị là chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội. Bởi vậy hai loại hiệu quả này đều có vị trí quan trọng trong việc phát triền đất nước một cách toàn diện và bền vững. Đây là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phát triển của nền kinh tế xã hội ở các mặt: trình độ tổ chức sản xuất, trình độ quản lý, mức sống bình quân … thực tế ở các nước tư bản chủ nghĩa đã cho thấy các doanh nghiệp tư bản chỉ chạy theo hiệu quả kinh tế mà không đặt các vấn đề hiệu quả chính trị và hiệu quả xã hội đi kèm và dẫn đến tình trạng: thất nghiệp, khủng hoảng có tính chu kỳ, ô nhiễm môi trường, chênh lệch giàu nghèo quá lớn… Chính vì vậy, Đảng và nhà nước ta đã có những chính sách, đường lối cụ thể để đồng thời tăng hiệu quả kinh tế kèm với tăng hiệu quả chính trị xã hội. Tuy nhiên, chúng ta không thể chú ý thái quá đến hiệu quả chính trị và hiệu quả xã hội, bài học lớn từ thời kỳ bao cấp để lại đã cho chúng ta thấy rõ điều đó.
Bản chất của hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ảnh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bản chất của hoạt động 8 kinh doanh là nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh doanh. Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính chất cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực.
Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các nguồn lực nội tại, phát huy năng lực, hiệu lực của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt hiệu quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay là phải đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời bao gồm cả chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là chi phí của sự lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua, hay là chi phí của sự hy sinh công việc kinh doanh khác để thực hiện hoạt động kinh doanh này.
Chi phí cơ hội phải được vào chi phí kế toán và phải loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để thấy rõ được lợi ích kinh tế thực. Cách tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả hơn. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp phải gắn mình với nền kinh tế thị trường, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay đặt các doanh nghiệp trong sự cạnh tranh gay gắt lẫn nhau.
Do đó để tồn tại trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả hơn. Các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạm trù khan hiếm: càng ngày người ta càng sử dụng nhiều các nhu cầu khác nhau của con người.