CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Qua quá trình nghiên cứu các tài liệu, sách báo liên quan đến lĩnh hoạt động thẻ ngân hàng để thực hiện đề tài nghiên cứu của mình, tác giả nhận thấy đã có một số đề tài nghiên cứu liên quan đến kinh doanh thẻ ngân hàng; các cuộc hội thảo chuyên đề liên quan đến hoạt động thẻ cũng thường xuyên được tổ chức với sự tham gia của các diễn giả trong và ngoài nước. Hội thảo quốc tế chuyên đề “An ninh bảo mật Thẻ và Thanh toán” (2014) do Hiệp hội ngân hàng Việt Nam phối hợp với Công ty Komtek đã tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh với các chủ đề xoay quanh các giải pháp cấp thiết trong việc nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro, an ninh bảo mật thẻ thanh toán nói chung đối với ngành ngân hàng tại Việt Nam. Hội thảo chuyên đề “Nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng bán lẻ ” (2014) do Vietcombank tổ chức đã đề cập đến tình hình phát hành thẻ tín dụng trên thế iv v giới, thực trạng phát hành thẻ tín dụng tại Việt Nam, tình hình phát hành thẻ tín dụng của Vietcombank trong giai đoạn 2011- 2013 và các giải pháp đẩy mạnh hoạt động phát hành thẻ tín dụng của Vietcombank với mục tiêu giành lại vị trí dẫn đầu Việt Nam trong hoạt động phát hành thẻ tín dụng và duy trì vị trí dẫn đầu trong hoạt động thanh toán thẻ tín dụng. Đề tài khoa học “Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm dịch vụ thẻ của Agribank giai đoạn 2015, tầm nhìn 2020” của Trung tâm thẻ Agribank – bảo vệ tại Hội đồng khoa học Agribank năm 2011 đã nêu được quá trình phát triển sản phẩm thẻ, kinh nghiệm phát triển thẻ, xu hướng phát triển thẻ của một số ngân hàng trên thế giới và tại Việt Nam.
NCS Hoàng Tuấn Linh (2009), “Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại các ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam”, luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Luận án trình bày một số lý luận cơ bản về thẻ của ngân hàng thương mại, thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại các ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam giai đoạn 2006 – 2008, định hướng phát triển dịch vụ thẻ ở Việt Nam và một số giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam. o Ngoài ra còn có, luận án “Phát triển hoạt động bán lẻ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” của NCS Vũ Thị Ngọc Dung, bảo vệ tài Hội đồng Đại học kinh tế quốc dân, năm 2009. o Nguyễn Đình Minh (2008), “Hạn chế rủi ro dịch vụ thẻ quốc tế tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học kinh tế quốc dân.
o Phạm Thị Hương (2008), “Nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học kinh tế quốc dân. o Trần Thị Kim Nhung (2009), “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Ngân hàng. o Lê Thị Mỹ (2010), “Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và v vi Phát triển nông thôn Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học kinh tế quốc dân. o Hà Thị Ngọc Thơ (2010), “Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học kinh tế quốc dân.
Các luận văn trên đều đã nêu được một số đặc điểm kinh doanh thẻ tín dụng, phân tích được thực trạng dịch vụ thẻ, phân tích được thực trạng, những điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động kinh doanh thẻ tại các ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đồng thời đưa ra được giải pháp tốt để phát triển dịch vụ thẻ, tập trung chủ yếu vào phát triển sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, giải pháp về hoạt động Marketing, chăm sóc khách hàng và giải pháp về phát triển nguồn nhân lực … nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và tăng khả năng cạnh tranh. Trong quá trình tìm hiểu các đề tài nghiên cứu có liên quan, tác giả chưa tìm thấy đề tài nào nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh thẻ tín dụng tại Chi nhánh ngân hàng Vietcombank Đắk Lắk. Vì vậy, tác giả nhận thấy cần tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này trong luận văn của mình. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH THẺ TÍN DỤNG Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán hiện đại do ngân hàng phát hành cho khách hàng để họ sử dụng trong thanh toán mua hàng hoá, dịch vụ tại các điểm cung ứng hàng hoá dịch vụ có ký hợp đồng thanh toán với ngân hàng, hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hay các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp.
Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện nhiều dịch vụ khác thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM.[1] o Phân loại theo công nghệ sản xuất: Có ba loại thẻ Thẻ khắc chữ nổi (Embossed Card) Thẻ từ (Magnetic Card) vi vii Thẻ thông minh (Smart Card) o Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ: có 3 loại Thẻ tín dụng (credit card) Thẻ ghi nợ (debit card) Thẻ trả trước ( Prepaid card ) o Phân loại theo phạm vi lãnh thổ. Thẻ nội địa. Thẻ quốc tế. Hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng có sự tham gia chặt chẽ của 6 thành phần cơ bản là: Tổ chức thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, hiệp hội các ngân hàng thanh toán và phát hành thẻ, chủ thẻ và các ĐVCNT.
Mỗi chủ thể đóng vai trò quan trọng khác nhau trong việc phát huy tối đa vai trò làm phương tiện thanh toán hiện đại của thẻ ngân hàng. Nghiệp vụ thanh toán thẻ tín dụng: Việc triển khai hoạt động thanh toán thẻ của một ngân hàng không chỉ là thu lợi nhuận từ nguồn phí chiết khấu tính trên giá trị giao dịch thanh toán bằng thẻ từ các ĐVCNT còn là mong muốn cung cấp cho khách hàng một dịch vụ hoàn chỉnh, một cơ sở thuận lợi cho sử dụng thẻ. Đối với TCTQT và các thành viên, việc khuyến khích hoạt động thanh toán thẻ thông qua mở rộng mạng lưới ĐVCNT có ý nghĩa rất quan trọng. Về hiệu quả kinh doanh thẻ tín dụng, Theo giáo sư Peter S.Rose thì về bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép.
Tuy nhiên khả năng sinh lời là mục tiêu các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư. Ta có thể rút ra khái niệm về hiệu quả như sau: “ Hiệu quả là sự so sánh kết quả đầu ra và yếu tố nguồn lực đầu vào”. Sự so sánh đó có thể là sự so sánh tương đối và so sánh tuyệt đối. Kết quả đầu ra thường được biểu hiện bằng sản lượng, doanh thu, lợi nhuận.
Yếu tố nguồn lực đầu vào là lao động, chi phí, tài sản và vii viii nguồn vốn. Bên cạnh đó người ta cũng cho rằng “ Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh”. Hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày nay càng trở lên quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng Tăng trưởng số lượng thẻ tín dụng tích lũy Tăng trưởng doanh số sử dụng thẻ tín dụng tích lũy Tăng trưởng doanh thu hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng Tăng trưởng lợi nhuận hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng Tăng trưởng dư nợ cho vay thẻ tín dụng Tăng trưởng số lượng đơn vị chấp nhận thẻ Về các nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh thẻ tín dụng Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh thẻ tín dụng / lao động thẻ Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh thẻ tín dụng/ giá trị máy móc thiết bị thẻ Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh thẻ tín dụng/ chi phí tài chính hoạt động thẻ tín dụng Trên nền tảng các khái niệm về hiệu quả kinh doanh và qua phân tích để chọn nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, hiệu quả kinh doanh thẻ tín dụng tại Vietcombank Đắk Lắk được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu chủ yếu sau: Tỷ lệ số lượng phát hành thẻ tín dụng tích lũy trên chi phí kinh doanh thẻ tín dụng Tỷ lệ doanh số sử dụng thẻ tín dụng trên chi phí kinh doanh thẻ tín dụng Tỷ lệ doanh thu hoạt động phát hành thẻ tín dụng trên chi phí kinh doanh thẻ tín dụng viii ix Tỷ lệ doanh thu hoạt động thanh toán thẻ tín dụng trên chi phí kinh doanh thẻ tín dụng Lợi nhuận kinh doanh thẻ tín dụng và tỷ lệ lợi nhuận kinh doanh thẻ tín dụng trên chi phí kinh doanh thẻ tín dụng CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH THẺ TÍN DỤNG TẠI VIETCOMBANK ĐẮK LẮK Vietcombank Đắk Lắk (tiền thân là phòng giao dịch của Chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Nha Trang) được thành lập ngày 10/10/1996 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam và chính thức khai trương đi vào hoạt động ngày 15/01/1997 nhằm phục vụ cho nhu cầu của tất cả các cá nhân và doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, góp phần thúc đẩy tiềm năng tăng trưởng phát triển kinh tế - xã hội của toàn tỉnh.
Ngoài ra, Là một chi nhánh trong hệ thống Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Vietcombank Đắk Lắk đã kế thừa những thành quả nhất định trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại tệ, cung cấp các dịch vụ, tiện ích ngân hàng hiện đại, cung ứng vốn … cho mọi thành phần kinh tế, tầng lớp dân cư và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.