phần mở đầu, kết luận, phụ lục,danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng về nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Công ty Cổ phần Traphaco Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần Traphaco. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm Hiện nay, còn nhiều quan điểm chƣa đồng nhất về khái niệm “hiệu quả kinh doanh”, mỗi nhà nghiên cứu dựa vào góc độ nhìn nhận và cách tiếp cận khác nhau lại đƣa ra một quan điểm khác nhau về khái niệm này.
Adam Smith (1776) trong cuốn sách “ Của cải của cách dân tộc” nhận định: “Hiệu quả - Kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Theo quan điểm này, việc xác định hiệu quả kinh doanh chỉ đơn thuần dựa vào khả năng tiêu thụ sản phẩm. Quan điểm của Adam Smith đã bỏ qua yếu tố chi phí trong việc tính toán hiệu quả kinh doanh do đó chƣa phân định đƣợc rõ ràng giữa hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh. Samuelson (1984) trong cuốn Kinh tế học đƣa ra quan điểm: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con người”.
Với cách tiếp cận này, tác giả đã nêu lên đƣợc đặc tính của khái niệm hiệu quả đó là sử dụng một cách tối ƣu các nguồn lực và mục đích của hoạt động. Tuy nhiên, quan điểm này chƣa đƣa ra đƣợc cách xác định hiệu quả kinh doanh. Tại Việt Nam, tác giả Phan Quang Niệm (2008) trong cuốn “ Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế hiện đại” đã đƣa ra nhận định:“Các doanh nghiệp quan tâm nhất chính là vấn đề hiệu quả sản xuất. SXKD có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với phạm trù lợi nhuận, là hiệu số giữa kết quả thu về với chi phí bỏ ra để đạt 7 được kết quả đó. Hiệu quả SXKD cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của mỗi doanh nghiệp”. Cần phải phân biệt một cách rõ ràng giữa hai khái niệm: hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh. Kết quả kinh doanh là những gì mà doanh nghiệp đạt đƣợc trong một khoảng thời gian nhất định đƣợc lƣợng hóa bằng một số chỉ tiêu nhƣ doanh thu, sản lƣợng tiêu thụ, thị phần,.
Hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, đƣợc tính bằng tỷ số giữa kết quả đạt đƣợc và hao phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó. Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: "Hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với các yếu tố, nguồn lực đầu vào để tạo ra đầu ra đó" - Các nguồn lực đầu vào bao gồm: lao động, vốn, tài sản, chi phí; - Các kết quả đầu ra bao gồm: giá trị tổng sản lƣợng, doanh thu, lợi nhuận. Hiệu quả đƣợc nhắc tới trong khái niệm trên bao gồm hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tƣơng đối. - Hiệu quả tuyệt đối đƣợc tính theo công thức: Hiệu quả SXKD = Kết quả thu đƣợc – Nguồn lực đầu vào Hiệu quả tuyệt đối cho ta thấy đƣợc việc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay không, cụ thể : + Hiệu quả > 0: cho thấy doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, doanh thu đạt đƣợc lớn hơn chi phí bỏ ra, doanh nghiệp kinh doanh có lãi.
+ Hệ số < 0: cho thấy doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả, thậm chí còn bị thua lỗ do doanh thu mang lại không đủ bù đắp cho các chi phí bỏ ra. - Hiệu quả tƣơng đối đƣợc tính theo công thức: 8 Kết quả đạt đƣợc Hiệu quả kinh tế = Nguồn lực bỏ ra Hiệu quả tƣơng đối cho ta thấy đƣợc mối tƣơng quan giữa nguồn lực bỏ ra và kết quả đạt đƣợc, cụ thể : + Hiệu quả > 1: cho thấy doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, chi phí bỏ ra thấp hơn doanh thu mang lại, doanh nghiệp kinh doanh có lãi. + Hệ số < 1: cho thấy doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả, thậm chí còn bị thua lỗ do doanh thu mang lại nhỏ hơn hoặc bằng các chi phí bỏ ra. Phân loại hiệu quả hoạt động kinh doanh Trong thực tiễn, dựa trên những tiêu thức đánh giá khác nhau và nhằm những mục đích khác nhau có thể có nhiều cách phân loại hiệu quả kinh doanh.
Để tạo điều kiện thuận lợi trong việc phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh, chúng ta có các cách phân loại sau: 1. Hiệu quả tuyệt đối và tương đối Căn cứ vào chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, chúng ta có thể phân loại hiệu quả SXKD thành hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tƣơng đối. - Hiệu quả tuyệt đối là lƣợng hiệu quả đƣợc tính toán cho từng phƣơng án kinh doanh cụ thể bằng cánh xác định mức lợi ích thu đƣợc với lƣợng chi phí bỏ ra. - Hiệu quả tƣơng đối đƣợc xác định bằng cánh so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phƣơng án với nhau, hay chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phƣơng án.
Việc xác định hiệu quả tuyệt đối là cơ sở để xác định hiệu quả tƣơng đối (so sánh). Tuy vậy, có những chỉ tiêu hiệu quả tƣơng đối đƣợc xác định không phụ thuộc vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối. Chẳng hạn, việc so 9 sánh mức chi phí của các phƣơng án khác nhau để chọn ra phƣơng án có chi phí thấp nhất thực chất chỉ là sự so sánh mức chi phí của các phƣơng án chứ không phải là việc so sánh mức hiệu quả tuyệt đối của các phƣơng án. Hiệu quả của chi phí bộ phận và hiệu quả của chi phí tổng hợp Căn cứ vào phạm vi xác định hiệu quả, hiệu quả SXKD đƣợc phân loại thành hiệu quả của chi phí tổng hợp và hiệu quả của chi phí bộ phận.
- Hiệu quả chi phí bộ phận thể hiện mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc với chi phí của từng yếu tố cần thiết đã đƣợc sử dụng để thực hiện nhiệm vụ SXKD nhƣ chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ thuê ngoài, … - Hiệu quả chi phí tổng hợp thể hiện mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc và tổng hợp tất cả các loại chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ SXKD của doanh nghiệp. Do vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp cần đánh giá tổng hợp các loại chi phí trên đồng thời phải đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí. Điều này có ý nghĩa quan trọng giúp công tác quản lý tìm đƣợc hƣớng giảm chi phí tổng hợp và chi phí bộ phận, thông qua đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân Căn cứ vào đối tƣợng cần đánh giá hiệu quả, có thể phân loại hiệu quả SXKD thành hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân.
- Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả kinh doanh thu đƣợc từ các hoạt động SXKD của từng doanh nghiệp, biểu hiện chung của hiệu quả kinh doanh cá biệt là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt đƣợc. - Hiệu quả kinh tế quốc dân là sự đóng góp của nó vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích luỹ ngoại tệ, 10 tăng thu cho ngân sách, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân. Giữa hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân có quan hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau. Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt đƣợc trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp nhƣ một tế bào của nền kinh tế, doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ đóng góp vào hiệu quả chung của nền kinh tế. Ngƣợc lại, tính hiệu quả của bộ máy kinh tế sẽ là tiền đề tích cực, là khung cơ sở cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt kết quả cao. Đó chính là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa lợi ích bộ phận với lợi ích tổng thể. Tính hiệu quả của nền kinh tế xuất phát từ chính hiệu quả của mỗi doanh nghiệp và một nền kinh tế vận hành tốt là môi trƣờng thuận lợi để doanh nghiệp hoạt động và ngày một phát triển.
Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh của mình các doanh nghiệp phải thƣờng xuyên quan tâm đến hiệu quả kinh tế quốc dân, đảm bảo lợi ích riêng hài hoà với lợi ích chung. Về phía các cơ quan quản lý nhà nƣớc, với vai trò định hƣớng cho sự phát triển của nền kinh tế cần có các chính sách tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp có thể hoạt động đạt hiệu quả cao nhất trong khả năng có thể của mình. Dữ liệu dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thƣờng đƣợc phân tích thông qua việc phân tích báo cáo kế toán tài chính. Báo cáo kế toán tài chính phản ánh một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản của đơn vị tại những thời điểm, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong một thời kỳ nhất định.
Hệ thống báo cáo tài chính kế toán quy định trong chế độ bao gồm 4 biểu mẫu sau: 1.1 Bảng cân đối kế toán 11 Bảng cân đối kế toán (BCĐKT) là báo cáo tài chính tổng hợp, cung cấp thông tin về toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Thực chất BCĐKT là bảng cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp cuối kỳ hạch toán. Số liệu trên BCĐKT cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó. Căn cứ vào bảng cân đối kế toán, các cơ quan Nhà nƣớc, các cổ đông, các trái chủ, v.