chương 1 Luật doanh nghiệp 2014) Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên trị trường. b) Các đặc điểm doanh nghiệp 7 - Doanh nghiệp có chức năng sản xuất và kinh doanh, hai chức năng này liên hệ hết sức chặt chẽ với nhau và tạo thành chu trình khép kín trong hoạt động của doanh nghiệp. - Doanh nghiệp có mục tiêu kinh tế cơ bản là lợi nhuận tối đa muốn đạt được điều đó doanh nghiệp phải tìm cách thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng ngày càng tốt hơn. - Doanh nghiệp làm ăn kinh doanh trong cơ chế thị trường, chấp nhận cạnh tranh tồn tại và phát triển.
Doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh trong từng giai đoạn. c) Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Hiệu quả kinh doanh gắn liền với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế, có mối liên hệ với tất cả các yếu tố như: lao động, tài sản, vốn, chi phí, nguyên vật liệu,…vì vậy doanh nghiệp có thể đạt được hiệu quả kinh doanh khi việc sử dung các yếu tố này hiệu quả. Đối với các doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh chính là thức đo chất lượng về trình độ tổ chức quản lý kinh doanh và cũng là thước đo cho sự phát triển và cạnh tranh của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp đề có một mục đích chung rằng khi mà bỏ một đồng vốn vào kinh doanh thì sẽ đem lại hiệu quả cao nhất, hiệu quả kinh doanh càng cao thì điều kiện để đầu tư và mở rộng doanh nghiệp càng lớn, và khả năng sinh lời cũng lớn hơn. Các quan điểm về hiệu quả kinh doanh Tùy theo cách nhìn nhận của mỗi nhà kinh tế khác nhau thì sẽ có các quan điểm về hiệu quả kinh doanh là khác nhau. Dưới đây là một số quan điểm về hiệu quả kinh doanh: Quan điểm thứ nhất cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí thấp nhất”. Như vậy, hiệu quả kinh doanh khác với kết quả kinh doanh và có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả kinh doanh (Nguyễn Văn Công, 2009).
Quan điểm thứ hai cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là đại lượng được đo bằng thương số giữa phần tăng thêm của kết quả thu được với phần tăng thêm của chi phí. 8 Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh được xem xét thông qua các chi tiêu tương đối. Khắc phục được hạn chế của các quan điểm trước đó, quan điểm này đã phán ánh mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, phản ánh sự vận động của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh, đặc biệt phản ánh được sự tiến bộ của hoạt động kinh doanh trong kỳ thực hiện so với các kỳ trước đó. Tuy vậy, nhược điểm lớn nhất của định nghĩa này là doanh nghiệp không đánh giá được hiệu quả kinh doanh trong kỳ thực hiện do không xét đến mức độ tuyệt đối của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh.
Theo đó, phần tăng của doanh thu có thể lớn hơn rất nhiều so với phần tăng của chi phí nhưng chưa thể kết luận rằng doanh nghiệp thu được lợi nhuận’’ Quan điểm thứ ba cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh chính là phần chênh lệch tuyệt đối giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Quan điểm này đã gắn kết được kết quả thu được với chi phí bỏ ra, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (các chi phí). Tuy nhiên, kết quả và chi phí là những đại lượng luôn vận động vì vậy quan điểm này còn bộc lộ nhiều hạn chế do chưa biểu hiện được mối tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí” Từ các quan điểm trên ta có thể thấy rằng với các doanh nghiệp để đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh cần phải trú trọng đến điều kiện nội tại, phát huy năng lực hiệu quả của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải sử dụng các yếu tố đầu vào hợp lý nhằm đạt được kết quả tối đa và với chi phí sử dụng là tối thiểu.
Ta có thể rút ra khái niệm về hiệu quả kinh doanh là: “Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với các yếu tố, nguồn lực đầu vào để tạo ra đầu ra đó” Như vậy, HQKD là một đại lượng so sánh giữa đầu ra và đầu vào, so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được (nó có thể là đại lượng tương đối hoặc tuyệt đối). Kết quả đầu ra thường được biểu hiện là giá trị tổng sản lượng, doanh thu, lợi nhuận. Yếu tố đầu vào thường là các yếu tố về lao động, tài sản, vốn,…thường được tính là các loại chi phí Hiệu quả tuyệt đối được xác định như sau: Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra – Yếu tố, nguồn lực đầu vào Hiệu quả tuyệt đối cho biết HĐKD của doanh nghiệp có hiệu quả với giá trị là bao nhiêu. 9 + Nếu “Hiệu quả kinh doanh” > 0, cho thấy doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả vì kết quả đạt được lớn hơn các yếu tố nguồn lực bỏ ra.
+ Nếu “Hiệu quả kinh doanh” ≤ 0, cho thấy doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không hiệu quả, thậm chí thua lỗ vì kết quả đạt được nhỏ hơn các yếu tố nguồn lực bỏ ra. Chỉ tiêu hiệu quả tương đối được xác định như sau: Hiệu quả kinh doanh = Yếu tố, nguồn lực đầu vào Kết quả đầu ra Chỉ tiêu trên cho ta thấy mối quan hệ tương quan giữa nguồn lực bỏ ra và kết quả đạt được, cụ thể: + Nếu chỉ tiêu trên < 1 cho thấy doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả vì kết quả đạt được lớn hơn các yếu tố nguồn lực bỏ ra. + Nếu chỉ tiêu trên ≥ 1 cho thấy doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không hiệu quả, thậm chí thua lỗ vì kết quả đạt được nhỏ hơn các yếu tố nguồn lực bỏ ra. Bản chất của hiệu quả kinh doanh Theo nghĩa tổng quát thì hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ quản lý, đảm bảo thực hiện có kết quả cao về nhiệm vụ kinh tế xã hội đặt ra với chi phí thấp nhất.
Thực chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh để tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó nhằm đạt được mục đích sản xuất kinh doanh đề ra. Do vậy, có thể hiểu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là đạt được kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu. Nói cách khác, bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội, đóng góp vào sự phát triển bền vững của DN nói riêng và của xã hội nói chung. Đây chính là mối quan hệ mật thiết giữa hiệu quả kinh doanh và nền sản xuất xã hội, là quy luật năng suất lao động và quy luật tiết kiệm thời gian.
Như vậy, bản chất của hiệu quả kinh doanh là: - Phản ánh mặt chất lượng các hoạt động kinh doanh. - Phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 10 - HQKD phức tạp, khó đánh giá vì kết quả và hao phí nguồn lực khó xác định chính xác. Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là việc phải đạt kết quả tối đa với một chi phí tối thiểu, hay là phải đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc ngược lại phải đạt được kết quả nhất định với một chi phí tối thiểu.
Chi phí ở đây là bao gồm tất cả các loại chi phí có thể chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, trong đó bao hàm cả chi phí cơ hội. Đây chính là điều mà các nhà quản lý phải xem xét để đưa ra phương án kinh doanh tốt nhất và đem lại hiệu quả là cao nhất. Phân loại hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh lĩnh vực Thứ nhất, hiệu quả kinh doanh tổng hợp. - Phản ánh trình độ lợi dụng mọi nguồn lực để đạt mục tiêu toàn DN hoặc từng bộ phận.
- Do tính chất phản ánh trình độ lợi dụng mọi nguồn lực nên HQKD tổng hợp đánh giá khái quát và cho phép kết luận tính hiệu quả của toàn DN trong một thời kỳ xác định. Thứ hai, hiệu quả ở từng lĩnh vực. Phản ánh trình độ lợi dụng một nguồn lực cụ thể theo mục tiêu đã xác định. Hiệu quả ở từng lĩnh vực không đại diện cho tính hiệu quả của doanh nghiệp, chỉ phản ánh tính hiệu quả sử dụng một nguồn lực cá biệt cụ thể.
- Phân tích, bổ sung các chỉ tiêu tổng hợp. - Kiểm tra và khẳng định rõ hơn kết luận được rút ra từ chỉ tiêu tổng hợp. - Phân tích hiệu quả ở từng mặt hoạt động, hiệu quả sử dụng từng yếu tố sản xuất nhằm tìm nguyên nhân và giải pháp tối đa hóa chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp. - Quan hệ giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả ở từng lĩnh vực bộ phận không phải lúc nào cũng là quan hệ thuận chiều.
- Chỉ có chỉ tiêu tổng hợp mới đánh giá toàn diện hiệu quả kinh doanh 1 cách chính xác. - Các chỉ tiêu lĩnh vực hoạt động chỉ phản ánh hiệu quả từng mặt, nhân tố ảnh hưởng. Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và hiệu quả kinh doanh dài hạn 11 Thứ nhất, hiệu quả kinh doanh ngắn hạn. Là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá ở từng khoảng thời gian ngắn như: tuần, tháng, quý, năm, vài năm… Thứ hai, hiệu quả kinh doanh dài hạn.