Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3: Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh doanh và tác động của tài chính tới hiệu quả kinh doanh tại Công ty thƣơng mại Lợi Thắng Chương 4: Giải pháp và kiến nghị 3 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để kinh doanh có hiệu quả cần phải có sự hỗ trợ và phối hợp nhiều yếu tố nhƣ thị trƣờng, môi trƣờng kinh doanh, chất lƣợng sản phẩm… Tuy nhiên, yếu tố tài chính mà cụ thể là nguồn vốn luôn là nền tảng và là một trong những yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự thành công của doanh nghiệp. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài báo đi sâu phân tích về hiệu quả cũng nhƣ sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp. Trong bài viết “Nghiên cứu lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp” đƣợc đăng trên tapchitaichinh.vn của Tác giả Dƣơng Thu Minh (2017) đã đề cập đến: Nâng cao hiệu quả kinh doanh là vấn đề quan trọng, đƣợc nhiều doanh nghiệp quan tâm hàng đầu, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Con đƣờng cơ bản để nâng cao hiệu quả kinh doanh là tìm mọi biện pháp để tăng doanh thu hoặc giảm chi phí, hoặc làm cho tốc độ tăng doanh thu hoặc giảm chi phí, hoặc làm cho tốc độ tăng doanh thu phải nhanh hơn tốc độ giảm chi phí. Các biện pháp để thực hiện rất khác nhau, tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể ở từng doanh nghiệp. Theo Tác giả: Căn cứ vào công thức tính toán HQKD của DN thì con đƣờng cơ bản để nâng cao HQKD là tìm mọi biện pháp để tăng doanh thu hoặc giảm chi phí, hoặc làm cho tốc độ tăng doanh thu hoặc giảm chi phí, hoặc làm cho tốc độ tăng doanh thu phải nhanh hơn tốc độ giảm chi phí. Các biện pháp để thực hiện rất khác nhau, tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể ở từng DN, tuy nhiên có thể tổng kết thành một số biện pháp cơ bản sau: Thứ nhất, tăng doanh thu là một trong những biện pháp cơ bản để nâng cao HQKD của DN.
Muốn tăng doanh thu thì DN phải tìm mọi biện pháp để tiêu thụ nhiều hàng hoá, hoặc là sản xuất ra các loại hàng hoá tốt hơn trƣớc đây để có thể bán đƣợc nhiều hàng, hoặc là bán hàng hóa cao hơn giá trƣớc đây. 4 Tiếp đến, để tiêu thụ đƣợc nhiều hàng hoá cũng đòi hỏi DN hoặc là phải sản xuất ra nhiều sản phẩm có chất lƣợng tốt hơn trƣớc đây, hoặc phải marketing thật tốt để nhiều khách hàng biết đến, chấp nhận sản phẩm của DN, hoặc là sản xuất ra các sản phẩm có mẫu mã đẹp, đa dạng hấp dẫn ngƣời tiêu dùng, hoặc là mở rộng thị trƣờng mục tiêu của DN. Thứ hai, giảm chi phí giúp DN có thể bán đƣợc hàng hoá với giá thấp hơn trƣớc hoặc thu đƣợc nhiều lợi nhuận hơn trƣớc đây. Việc giảm chi phí sẽ dẫn đến lợi nhuận tăng và điều đó có nghã là HQKD cũng tăng theo.
Thứ ba, tìm mọi cách để cho tốc độ tăng doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng chi phí. Kinh doanh trong điều kiện sản xuất lớn khó có thể làm giảm đƣợc tổng chi phí vì sản lƣợng tăng quá nhanh. Trong trƣờng hợp này, DN phải tìm mọi biện pháp để tốc độ tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng chi phí làm cho mối tƣơng quan giữa doanh thu và chi phí theo chiều hƣớng có lợi. Điều đó cũng có nghĩa là DN phải sử dụng các chi phí sản xuất một cách tiết kiệm, hợp lý và tránh lãng phí.
Trong bài viết “ Đau đầu bài toán sử dụng đồng vốn có hiệu quả ” đƣợc đăng tải trên Diễn đàn kinh tế Việt Nam – báo điện tử Vietnamnet của Tác giả Minh Đức (2011) đã đề cập đến vấn đề hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động. Theo tác giả, các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian gần đây chú trọng nhiều đến việc tăng vốn, tăng quy mô doanh nghiệp trong khi họ dƣờng nhƣ lơ là việc nâng cao hiệu quả và năng suất của đồng vốn tại doanh nghiệp. Để minh chứng cho điều này, tác giả đã đƣa số liệu điều tra của Vietnam Report, có tới 60% doanh nghiệp cho rằng khó khăn lớn của họ là khó huy động vốn. Chỉ có 30% doanh nghiệp nhìn nhận khó khăn của họ là do thiếu dự án đầu tƣ có hiệu quả cao.
Nói ngắn gọn là họ thiếu chiến lƣợc về cơ cấu vốn. Nhiều doanh nghiệp quá phụ thuộc vào vốn vay trong khi một số các doanh nghiệp khác dùng quá nhiều vốn tự có dẫn đến việc quy mô vốn không lớn, không nhận đƣợc những dự án lớn, ảnh hƣởng 5 đến kết quả kinh doanh. Nhƣ vậy tác giả đã nhìn thấy điểm yếu của của các doanh nghiệp Việt Nam ở khía cạnh sử dụng nguồn lực tài chính. Theo tác giả, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là rất cần thiết.Cụ thể là cần phải có cơ cấu vốn hợp lý, tận dụng vốn tự có của doanh nghiệp cần giảm thiểu rủi ro và chi phí vốn.
Đó là tiền đề cho các phƣơng hƣớng nghiên cứu tiếp theo. Tuy nhiên, ở đây tác giả chỉ nhấn mạnh đến giải pháp cơ cấu vốn hợp lý. Để sử dụng hiệu quả đồng vốn bỏ ra cần phải quản lý vốn tốt nhƣ quản lý doanh thu, chi phí, tài sản… Trong bài viết “Nghiên cứu về hiệu quả sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp” đƣợc đăng trên tapchitaichinh.vn của Tác giả ThS: Vũ Thị Diệp (29/5/2017) đã đề cập về việc tính toán hiệu quả sử dụng nguồn lực sẽ giúp doanh nghiệp nhận thức rõ kết quả khai thác hiện tại so với khả năng đáp ứng tối đa của mình, cũng nhƣ giúp doanh nghiệp tìm ra nguyên nhân làm ảnh hƣởng tới hiệu quả đầu ra. Trên cơ sở nghiên cứu hiệu quả hoạt động doanh nghiệp theo quan điểm sử dụng các biện pháp tài chính trên thế giới, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm giúp các doanh nghiệp Việt Nam nhận diện đƣợc vị trí, tầm nhìn trong hiện tại và tƣơng lai.
Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới đã vận dụng lý thuyết về hiệu quả nhìn nhận ở góc độ so sánh tuyệt đối và tƣơng đối giữa đồng vốn DN bỏ ra với tổng thu nhập (lợi ích) sinh ra từ quá trình hoạt động trong một thời kỳ nhất định. Việc tính toán hiệu quả sử dụng nguồn lực giúp DN nhận thức rõ kết quả khai thác hiện tại so với khả năng đáp ứng tối đa của mình, cũng nhƣ tìm ra nguyên nhân làm ảnh hƣởng tới hiệu quả đầu ra. Tuy nhiên, cần xem xét đánh giá hiệu quả hoạt động DN cùng với các chỉ tiêu khác nhƣ: Môi trƣờng kinh doanh, đối thủ cạnh tranh, thị phần, nhà cung cấp, sự hài lòng của khác hàng, quy trình hoạt động nội bộ… Tất cả các chỉ tiêu trên sẽ cho phép DN phân tích đƣợc vị trí, tầm nhìn của mình trong hiện tại và tƣơng lai. 6 Thực tế, khi phân tích hiệu quả hoạt động hiện nay các DN chỉ tập trung vào việc xem xét các chỉ tiêu tài chính phản ánh góc độ kinh tế.
Các chỉ tiêu sử dụng không đầy đủ, cho nên khó có thể đánh giá đƣợc các khía cạnh hoạt động kinh tế của DN. Do vậy, các biện pháp tài chính khi vận dụng DN nên phân loại thành các nhóm sau: Nhóm thứ nhất, hiệu quả sử dụng chi phí: Nhóm chỉ tiêu phân tích khả năng sử dụng chi phí nhƣ hiệu quả sử dụng lao động, chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sản xuất chung, giá thành/đơn vị sản phẩm, chi phí gián tiếp/đơn vị sản phẩm. Nhóm thứ hai, hiệu suất và hiệu năng hoạt động: Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng, quản lý tài sản của DN (hiệu suất sử dụng tổng tài sản, hiệu suất sử dụng vốn lƣu động, hiệu suất sử dụng tài sản cố định, vòng quay của tài sản, vòng quay nợ phải thu, thời gian nắm giữ hàng tồn kho …); đo lƣờng hiệu quả quản lý về hoạt động của công ty nhƣ công suất tài sản, giá bán trung bình, doanh thu/kỳ… Nhóm thứ ba, hiệu quả trong thanh toán: Nhóm chỉ tiêu phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn (khả năng thanh toán tức thời, khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán hiện hành…), nhóm chỉ tiêu phân tích khả năng thanh toán các khoản nợ dài hạn. Nhóm thứ tư, hiệu quả hoạt động và đầu tƣ của DN: Đo lƣờng hiệu suất tổng thể về khả năng của DN để tạo ra thu nhập, thu nhập/ chi phí của nhà đầu tƣ, lợi nhuận/doanh thu và các khoản đầu tƣ.
Nhóm thứ năm, hiệu quả hoạt động trong ngành: Tốc độ tăng trƣởng thị phần, tổng giá trị xuất nhập khẩu trong ngành, giá trị sản xuất/tổng giá trị sản xuất của ngành… Tựu chung, việc vận dụng các công cụ vào phân tích hiệu quả hoạt động phải linh hoạt theo đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh và điều kiện của DN. Hiện 7 nay, các DN có quy mô lớn thì thƣờng có xu hƣớng tập trung đầu tƣ cho công tác đánh giá hiệu quả và xây dựng chiến lƣợc. Các bƣớc tiến hành phân tích bao gồm các giai đoạn chuẩn bị phân tích, tiến hành phân tích và kết thúc ra báo cáo phải tuân thủ chặt chẽ và sử dụng số liệu kế toán chính xác, phù hợp. Đối với hầu hết các DN có quy mô vừa và nhỏ, công tác phân tích hiệu quả hoạt động hiện nay ít đƣợc chú trọng, chẳng hạn nhƣ không có bộ phận phân tích báo cáo riêng, chỉ thực hiện tính toán một số nhóm chỉ tiêu nhƣ khả năng thanh toán, khả năng sinh lời.
Vì vậy, những công trình nghiên cứu thực nghiệm về phân tích hiệu quả hoạt động không chỉ giúp cho các DN trên thế giới nói chung và DN Việt Nam nói riêng xây dựng, vận dụng hệ thống chỉ tiêu tài chính phù hợp, toàn diện; đồng thời, nhận diện đƣợc vị trí, tầm nhìn của mình trong hiện tại và tƣơng lai. Nhƣ vậy, các công trình nghiên cứu cũng nhƣ một số bài báo, bài giảng trên đã nhìn nhận và giải quyết thấu đáo những về các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên những nghiên cứu trên vẫn chƣa có cái nhìn tổng thể, nặng về xem xét khía cạnh huy động vốn và sử dụng hiệu quả đồng vốn.