CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP 1. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái quát về doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp Khái niệm DN được định nghĩa theo Điều 4 Luật DN năm 2020 như sau: DN là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh [16].
Hiện nay các DN trên thị trường nước ta đa số đều thực hiện quá trình SXKD, cung cấp các dịch vụ thế mạnh để sinh lời. Những DN này được xem là một tổ chức kinh tế vị lợi. Bên cạnh đó cũng có những DN hoạt động không vì mục đích LN. Mỗi loại hình DN mang những đặc điểm riêng nổi bật, tuy nhiên chúng đều có những đặc điểm chung sau đây: - DN có tính hợp pháp: phải nộp hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kinh doanh và nhận giấy phép đăng ký thành lập khi muốn thành lập công ty.
Khi DN được cấp phép kinh doanh thì DN được công nhận hoạt động kinh doanh, được pháp luật bảo hộ và chịu sự ràng buộc bởi các quy định pháp lý có liên quan. - DN có hoạt động kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ thường xuyên. Hầu hết các DN khi thành lập đều hướng đến mục đích tạo ra LN thông qua việc mua bán, SXKD hàng hóa hoặc cung ứng để phục vụ người tiêu dùng. Bên cạnh đó, có một số DN xã hội đặc thù, hoạt động không vì mục tiêu LN mà hướng đến yếu tố vì cộng đồng, vì xã hội và môi trường ví dụ như các DN về điện, nước, vệ sinh,.
- DN có tính tổ chức. Tính tổ chức thể hiện qua việc có tổ chức điều hành, cơ cấu nhân sự, có trụ sở giao dịch hoặc đăng ký và có tài sản riêng để quản lý, kèm theo tư cách pháp nhân trừ loại hình DN tư nhân. Phân loại doanh nghiệp Hiện nay, pháp luật cho phép các cá nhân, tổ chức thành lập rất nhiều loại hình công ty DN khác nhau phù hợp với nhu cầu, mục đích của người thành lập. a) Căn cứ vào hình thức pháp lý Căn cứ vào hình thức pháp lý, Luật DN năm 2020 quy định có các loại hình công ty, DN sau đây: [16] - Công ty TNHH: bao gồm công ty TNHH 01 thành viên và công ty TNHH 02 thành viên trở lên.
Thành viên trong công ty TNHH chịu trách nhiệm về tài sản của công ty và các khoản nợ trong phạm vi số vốn điều lệ. + Công ty TNHH 1 thành viên: Loại hình DN này do 1 tổ chức hoặc 1 cá nhân làm chủ (gọi là chủ sở hữu). Chủ sở hữu công ty sẽ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. + Công ty TNHH 2 thành viên trở lên: (1) Số thành viên là tổ chức, cá nhân không vượt quá 50; (2) Phần vốn góp của các thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của Luật DN; (3) Các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn điều lệ, trừ trường hợp quy định khác; (4) Có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN; (5) Công ty TNHH 2 thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần huy động vốn.
- CTCP: là công ty mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của DN được gọi là cổ đông (Số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không giới hạn số lượng cổ đông tối đa) và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào DN. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại Luật DN. CTCP có quyền phát hành các loại cổ phần để huy động vốn.
- Công ty hợp danh: là công ty trong đó có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung. Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công 10 ty, thường là các cá nhân có sự thân cận về mặt nhân thân. Trong công ty hợp danh còn có thành viên góp vốn. - DN tư nhân là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN.
Mỗi cá nhân chỉ được thành lập 01 DN tư nhân theo quy định pháp luật. - DN nhà nước: bao gồm các DN do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ. b) Căn cứ vào chế độ trách nhiệm - DN có trách nhiệm vô hạn: là loại hình DN mà chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN khi DN không còn đủ tài chính để thực hiện kinh doanh. Theo pháp luật hiện hành, Việt Nam có 02 loại hình DN có trách nhiệm vô thời hạn là DN tư nhân và công ty hợp danh.
Thực chất của chế độ trách nhiệm vô hạn của loại DN này là chủ sở hữu DN tư nhân và thành viên công ty hợp danh sẽ chịu trách nhiệm đến cùng về mọi nghĩa vụ tài sản của DN mà không giới hạn ở phần tài sản chủ DN, các thành viên hợp danh đã bỏ vào đầu tư kinh doanh. Tức là nếu tài sản của DN tư nhân và công ty hợp danh không đủ để thực hiện các nghĩa vụ về tài chính của DN khi DN phải áp dụng thủ tục thanh lý trong thủ tục phá sản, thì chủ sở hữu DN tư nhân và thành viên công ty hợp danh phải sử dụng cả tài sản cá nhân không đầu tư vào DN để thanh toán cho các khoản nợ của DN. - DN có trách nhiệm hữu hạn: bao gồm công ty TNHH, CTCP, DN liên doanh và DN 100% vốn đầu tư nước ngoài không tiến hành đăng ký lại theo Nghị định 101/2006/NĐ-CP. DN có TNHH là những DN mà chủ sở hữu công ty chỉ phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN.
Điều này có nghĩa là khi tài sản DN không đủ để trả nợ thì chủ sở hữu không có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho DN. Chế độ DN có TNHH thực chất là chế độ TNHH của chủ sở hữu công ty, thành viên công ty và các nhà đầu tư. Khái quát về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Khái niệm kinh doanh được định nghĩa theo Điều 4 Luật DN năm 2020 như sau: Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
[16] Như vậy, kinh doanh là các hoạt động nhằm mục đích sinh lãi của chủ thể kinh doanh trên thị trường. Trong đó, thị trường là nơi mua, bán hàng hóa, dịch vụ mà chủ thể kinh doanh cung cấp. Kinh doanh gắn liền với thị trường, diễn ra trên thị trường và tuân theo các thông lệ quy định và quy luật của thị trường. Khác với các hành vi dân sự thuần tuý khác (cũng trao đổi, cũng cung ứng dịch vụ), mục tiêu chính của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận.
Đối với các DN, Lợi nhuận được tạo ra khi số tiền thu được trong kinh doanh (doanh thu) lớn hơn số tiền phải chi phí (chi phí kinh doanh), tiền bán ra trừ tiền chi phí bằng lợi nhuận. Bất cứ hoạt động nào, cho dù về mặt hình thức giống kinh doanh nhưng mục tiêu của hoạt động đó không phải là tạo ra LN đều không phải là kinh doanh. Qua những phân tích đó, khái niệm được sử dụng thống nhất trong luận văn này như sau: Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình chủ doanh nghiệp bỏ vốn và các nguồn lực khác để thực hiện các hoạt động tạo ra và cung ứng sản phẩm, dịch vụ trên thị trường nhằm mục tiêu lợi nhuận. Pháp luật quy định, hành vi kinh doanh có mục đích sinh lợi (kiếm lời) nhưng lời hay lỗ lại không thành vấn đề cho việc xác định hành vi kinh doanh.
Nhiều trường hợp sản xuất, buôn bán bị lỗ nhưng vẫn là kinh doanh. Dưới giác độ pháp lý, khi xác định hành vi kinh doanh, chúng ta quan tâm đến việc có hay không có mục tiêu tạo ra LN, chứ không quan tâm đến việc thực hiện mục tiêu đó như thế nào. Có thể kết luận khái quát rằng LN là đích cuối cùng của các nhà kinh doanh; bất cứ hoạt động nào nhằm mục đích kiếm lời trên thị trường cũng là hoạt động kinh doanh. Các nguồn lực để tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn lực của DN là tất cả tài sản, năng lực, quy trình tổ chức, thuộc tính, thông 12 tin kiến thức,.
mà DN đang sở hữu và có thể khai thác, xây dựng, thực thi chiến lược của mình nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu suất của DN [21, tr 101]. Hiện nay, khái niệm này được hiểu theo một cách đơn giản hơn, đó là nguồn tài sản mà mỗi DN đang sở hữu và có thể khai thác để phục vụ cho các hoạt động phát triển kinh doanh của DN. Có nhiều cách phân loại nguồn lực của DN tùy theo quy mô, mô hình hoạt động, cách thức kinh doanh. Theo cách phổ biến nhất, nguồn lực được phân biệt thành hai loại chính: hữu hình và vô hình.
- Nguồn lực hữu hình là những tài sản của DN mà ta có thể nhìn thấy và định lượng được, bao gồm: tiền, văn phòng, nhà xưởng, máy móc trang thiết bị, nguồn nhân lực,. - Nguồn lực vô hình là những tài sản vô hình, bao gồm: kiến thức và các kĩ năng của các cá nhân trong DN, mối quan hệ với các đối tác như nhà bán lẻ, nhận thức của người khác đối với DN và sản phẩm, dịch vụ của DN,. Các DN hiện nay muốn phát triển mạnh mẽ không thể chỉ sở hữu những nguồn lực hữu hình như đã nói ở trên khi mà những điều có thể nhìn thấy và định lượng cụ thể đều có thể dễ dàng bắt chước. DN cần phải chú trọng phát triển các nguồn lực vô hình.