Chương 1- Một số cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh và các tiêu chí đánh giá. Chương 2- Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty Cổ phần CNTT Việt Tiến Mạnh Chương 3-Phƣơng hƣớng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty Cổ phần CNTT Việt Tiến Mạnh 6 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ 1. Khái quát về hiệu quả kinh doanh và vai trò nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc trưng kinh doanh Có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau về hoạt động kinh doanh.
Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về phƣơng tiện, phƣơng thức, kết quả cụ thể của kinh doanh thì có thể hiểu hoạt động kinh doanh là các hoạt động thực hiện một hoặc một số công đoạn của quá trình sản xuất nhằm mục tiêu sinh lời của các chủ thể kinh doanh (doanh nghiệp) trên thị trƣờng. Đặc trƣng chủ yếu của hoạt động kinh doanh: - Hoạt động kinh doanh phải do một chủ thể thực hiện đƣợc gọi là chủ thể kinh doanh. Chủ thể kinh doanh có thể là doanh nghiệp Nhà nƣớc; doanh nghiệp cổ phần và các loại hình doanh nghiệp khác. - Hoạt động kinh doanh phải gắn với thị trƣờng.
Thị trƣờng và hoạt động kinh doanh đi liền với nhau nhƣ hình với bóng, không có thị trƣờng thì không có khái niệm kinh doanh. Thị trƣờng hoạt động kinh doanh phải đƣợc hiểu theo nghĩa rộng là một hệ thống bao gồm các khách hàng sử dụng, nhà cung cấp, mối quan hệ cung cầu giữa họ tác động qua lại để xác định giá cả, số lƣợng và chất lƣợng. - Hoạt động kinh doanh phải gắn với sự vận động của đồng vốn. Các doanh nghiệp không chỉ có vốn mà còn cần phải biết cách thực hiện vận động đồng vốn đó không ngừng.
- Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là sinh lời tức đạt lợi nhuận cao nhất. Bên cạnh đó doanh nghiệp còn thực hiện các mục đích công ích xã hội. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt kết quả cao nhất với chi phí là thấp nhất. Nó không chỉ là thƣớc đo trình độ tổ chức quản lý kinh 7 doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của lịch sử và góc độ nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, xuất hiện các khái niệm khác nhau về hiệu quả hoạt động kinh doanh. Nhà kinh tế học ngƣời Anh-Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả hoạt động kinh doanh là kết quả đạt đƣợc trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”. Ở đây hiệu quả đƣợc đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh. Với cách tiếp cận này khó giải thích kết quả kinh doanh có thể tăng do tăng chi phí mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất.
Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng hiệu quả. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Hiệu quả hoạt động kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí”. Quan niệm này đã biểu hiện đƣợc quan hệ so sánh tƣơng đối giữa kết quả đạt đƣợc và chi phí đã tiêu hao. Nhƣng xét theo quan điểm triết học hiện đại thì sự vật và hiện tƣợng đều có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ.
Hơn nữa kinh doanh là một quá trình trong đó các yếu tố tăng thêm có sự liên hệ mật thiết với các yếu tố sẵn có. Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả kinh doanh thay đổi. Theo quan điểm này hiệu quả hoạt động kinh doanh chỉ đƣợc xét tới phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung. Quan điểm thứ ba nêu: “Hiệu quả hoạt động kinh doanh đƣợc đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt đƣợc và chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó”.
Ƣu điểm của quan điểm này là phản ánh đƣợc mối quan hệ bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh. Nó đã gắn đƣợc kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phán ánh trình độ sử dụng các chi phí. Tuy nhiên, nó không đề cập đến trình độ sử dụng lao động xã hội cũng nhƣ sử dụng các nguồn lực để đạt đƣợc kết quả kinh tế cao. Nếu xem xét kết quả kinh doanh trên góc độ này thì nó cũng đồng nhất với phạm trù lợi nhuận do đó rất khó khăn trong công tác đánh giá và tổ chức quản lý các doanh nghiệp.
Quan niệm thứ tƣ đƣa ra: “Hiệu quả hoạt động kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp nhằm đạt 8 đƣợc kết quả của mục tiêu kinh doanh”. Đây là một khái niệm tổng quát và là một khái niệm đúng thể hiện đƣợc bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh. Quan niệm thứ năm cho rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh là “một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm mục tiêu kinh doanh”. Khái niệm này gắn quan điểm hiệu quả với cơ sở lý luận kinh tế hiện đại là nền kinh tế của mỗi quốc gia đƣợc phát triển đồng thời theo chiều rộng và chiều sâu.
Phát triển kinh tế theo chiều rộng là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất, tăng thêm vốn, bổ sung thêm lao động và kỹ thuật. Phát triển kinh tế theo chiều sâu là đẩy mạnh cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, nâng cao cƣờng độ sử dụng các nguồn lực, chú trọng chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ, phát triển kinh tế theo chiều sâu là nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế. Từ các khái niệm trên có thể khái quát quan niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt đƣợc kết quả của mục tiêu hoạt động kinh doanh. Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh *Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh doanh xã hội Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả sản xuất kinh doanh thu đƣợc từ hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Biểu hiện chung của hiệu quả cá biệt là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt đƣợc. Hiệu quả kinh doanh xã hội đem lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của hoạt động kinh doanh vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích luỹ ngoại tệ, tăng thu cho ngân sách. Trong quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh, không những cần tính toán và đạt đƣợc hiệu quả trong hoạt động của từng ngƣời, từng doanh nghiệp, mà còn phải tính toán và quan trọng hơn phải đạt đƣợc hiệu quả kinh tế xã hội đối với nền kinh tế quốc dân. Giữa hiệu quả kinh tế xã hội và hiệu quả kinh doanh cá biệt có mối quan hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau.
Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt đƣợc trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp. Tuy vậy vẫn có những 9 doanh nghiệp không đảm bảo đƣợc hiệu quả (bị lỗ), nhƣng nền kinh tế vẫn thu đƣợc hiệu quả. * Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng gắn liền với môi trƣờng và thị trƣờng của nó. Doanh nghiệp cần căn cứ vào thị trƣờng để giải quyết những vấn đề then chốt: sản xuất và kinh doanh cái gì, sản xuất kinh doanh nhƣ thế nào, sản xuất kinh doanh cho ai và với chi phí bao nhiêu? Mỗi doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong những điều kiện cụ thể về tài nguyên, trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ tổ chức và quản lý lao động, quản lý kinh doanh.
Họ đƣa ra thị trƣờng sản phẩm - dịch vụ của mình đối với một chi phí cá biệt nhất định và ngƣời nào cũng muốn đƣợc tiêu thụ hàng hoá của mình với giá cao nhất. Tuy vậy, khi đƣa hàng hoá của mình ra bán trên thị trƣờng, họ chỉ có thể bán theo mức giá của thị trƣờng, nếu sản phẩm của họ có mức giá tƣơng đƣơng. Bởi vì thị trƣờng chỉ chấp nhận mức trung bình của xã hội cần thiết về hao phí để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá - dịch vụ. Qui luật giá trị đã đặt tất cả các doanh nghiệp với mức chi phí cá biệt khác nhau trên cùng một mặt bằng trao đổi, thông qua một mức giá cả của thị trƣờng.
Suy cho cùng chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội. Nhƣng tại mỗi một doanh nghiệp mà chúng ta cần đánh giá hiệu quả thì chi phí lao động xã hội đó lại đƣợc thể hiện ở các dạng chi phí cụ thể. Bản thân mỗi loại chi phí trên có thể đƣợc phân chia chi tiết, tỷ mỷ hơn. Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì không thể không đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chi phí trên nhƣng cũng cần thiết đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí.
Nhƣ vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung đƣợc tạo thành trên cơ sở hiệu quả các loại chi phí cấu thành. Các đơn vị sản xuất kinh doanh là nơi trực tiếp sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh nên các đơn vị sản xuất kinh doanh phải quan tâm xác định những biện pháp đồng bộ để thu đƣợc hiệu quả toàn diện trên các yếu tố của quá trình đó. 10 * Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh Trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh, việc xác định hiệu quả nhằm hai mục tiêu cơ bản: Để thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các dạng chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh; Phân tích luận chứng kinh tế của các phƣơng án khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó, từ đó lựa chọn phƣơng án có lợi nhất. Hiệu quả tuyệt đối là lƣợng hiệu quả đƣợc tính toán cho từng phƣơng án cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu đƣợc với lƣợng chi phí bỏ ra.