phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Truyền thông số 1 Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Truyền thông số 1 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh HQKD từ lâu đã luôn là vấn đề được các DN quan tâm hàng đầu và HQKD của DN đóng vai trò rất quan trọng trong việc tối đa LN. Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, cơ chế nguyên tắc vận hành cơ bản là cạnh tranh tự do.
Thực tế xác nhận rằng cho đến nay, sau khi mà nền kinh tế đã vượt qua kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp, cạnh tranh là cơ chế phân bổ các nguồn lực hiệu quả nhất. Thông qua cạnh tranh tự do, với mục tiêu đối đa hoá LN, các HĐKD phải đi theo chiến lược kinh doanh nhất định và quá trình kinh doanh phải diễn ra thật sự hiệu quả. Đối với một DN, HQKD và các yếu tố trong SXKD có mối quan hệ mật thiết với nhau như: nhân sự, tiền vốn, trang thiết bị, nguyên vật liệu,… Vì vậy, một DN có HQKD cao là một DN sử dụng các yếu tố trên một cách hiệu quả trong quá trình SXKD. DN hoạt động hiệu quả từ đó có điều kiện để đầu tư trang thiết bị hiện đại cho SXKD, áp dụng khoa học công nghệ mới, thu hút nhiều nhân viên giỏi, đưa ra nhiều chính sách để nâng cao chất lượng đời sống nhân viên cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến ngân sách Nhà nước.
Quan điểm thứ nhất: Theo “Giáo trình Quản trị kinh doanh” của GS. TS Nguyễn Thành Độ và PGS. TS Nguyễn Ngọc Huyền, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2017: “HQKD là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được cái mục tiêu kinh doanh xác định. Chỉ các 9 DN kinh doanh mới nhằm vào mục tiêu tối đa hoá LN và vì thế mới cần đánh giá HQKD.” Theo quan điểm thứ hai: “HQKD là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của DN để đạt kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí thấp nhất”.
Như vậy, HQKD khác hoàn toàn với kết quả kinh doanh nhưng lại tồn tại giữa chúng một mối quan hệ khá chặt chẽ. Từ các quan điểm đã nêu ra trên đây, ta có thể nhận ra rằng các DN muốn đạt được mục tiêu kinh doanh có hiệu quả thì DN đó cần để ý đến những yếu tố hiện có của mình, phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu và tối ưu chi phí. Hơn nữa, trong kinh doanh, hiệu quả liên quan đến sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ bằng cách sử dụng số lượng hoặc tài nguyên nhỏ nhất (vốn, LLLĐ, năng lượng,…). Nâng cao HQKD yêu cầu với chi phí tối thiểu nhất có thể, ta phải sử dụng các yếu tố đầu vào một cách hợp lý nhất để đạt được kết quả tối đa.
Vì vậy, khái niệm về HQKD có thể được khái quát như sau: HQKD của DN là sự so sánh giữa kết quả đầu ra của DN với các yếu tố, nguồn lực đầu vào của DN để tạo ra đầu ra đó.” Như vậy, HQKD là một đại lượng so sánh: so sánh giữa đầu ra với đầu vào và ngược lại, so sánh giữa chi phí và DT,… Kết quả đầu ra được biểu hiện bằng giá trị tổng sản lượng, DT và LN. Yếu tố đầu vào được hiểu là LLLĐ, máy móc trang thiết bị, vốn và các yếu tố khác. Theo “Giáo trình Quản trị kinh doanh” của GS. TS Nguyễn Thành Độ và PGS.
TS Nguyễn Ngọc Huyền, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2017, về mặt so sánh tuyệt đối thì HQKD được xác định như sau: H=K–C Trong đó: H: Hiệu quả kinh doanh 10 K: Kết quả đạt được C: Chi phí bỏ ra để sử dụng các nguồn lực đầu vào + Nếu H > 0, cho thấy DN hoạt động có hiệu quả vì kết quả đạt được lớn hơn chi phí bỏ ra để sử dụng các nguồn lực đầu vào. + Nếu H 0, cho thấy DN hoạt động không hiệu quả, thậm chí là thua lỗ vì kết quả đạt được nhỏ hơn hoặc bằng chi phí bỏ ra để sử dụng các nguồn lực đầu vào. Về mặt so sánh tương đối thì HQKD được xác định như sau: C H= K Trong đó: H: Hiệu quả kinh doanh K: Kết quả đạt được C: Chi phí bỏ ra để sử dụng các nguồn lực đầu vào + Nếu H < 1 thì có nghĩa DN hoạt động có hiệu quả vì kết quả đạt được lớn hơn chi phí bỏ ra để sử dụng các nguồn lực đầu vào. + Nếu H 1, cho thấy DN hoạt động không hiệu quả, thậm chí là thua lỗ vì kết quả đạt được nhỏ hơn hoặc bằng chi phí bỏ ra để sử dụng các nguồn lực đầu vào.
Bản chất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp HQKD là một phạm trù kinh tế, gắn với cơ chế thị trường, phản ánh mặt chất lượng các HĐKD. Do các HĐKD có chất lượng thì mới tạo ra được kết quả đạt được. HQKD phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình tiến hành các HĐKD của DN. Thực chất, việc lợi dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình tiến hành các HĐKD tốt bao nhiêu thì càng tiết kiệm 11 chi phí bấy nhiêu để đạt được mục đích SXKD mà DN đã đề ra.
Vì vậy, có thể hiểu HQKD là đạt được kết quả tối đa nhất có thể chỉ với chi phí tối thiểu. HQKD rất phức tạp và khó đánh giá vì cả chi phí cho nguồn lực đầu vào và kết quả mà DN đạt được đều khó xác định chính xác. Kết quả đạt được ở đây là tất cả những gì mà DN đạt được sau một quá trình kinh doanh nhất định. Chi phí cho nguồn lực đầu vào được tính bằng chi phí tài chính hoặc chi phí kinh doanh.
Ngoài ra, chi phí cho nguồn lực có thể được hiểu là chi phí để tạo ra nguồn lực đầu vào và chi phí để sử dụng nguồn lực đó, bao gồm cả chi phí cơ hội trong đó. Chi phí cơ hội ở đây được hiểu là chi phí do đã không lựa chọn các thay thế “tốt nhất kế tiếp” hay được hiểu là những chi phí của sự bỏ qua một công việc nào đó để tập trung thực hiện công việc khác. Bản chất HQKD cũng có thể được hiểu là sử dụng các giải pháp để vừa tiết kiệm lao động xã hội vừa nâng cao năng suất lao động xã hội, từ đó góp phần cho xã hội phát triển bền vững. Trong bối cảnh nguồn nhân lực khan hiếm như hiện nay và cả xã hội cạnh tranh nhau để sử dụng lao động có chuyên môn, trình độ, DN cần phải khai thác, sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả nhất có thể và tiết kiệm nguồn nhân lực.
DN nâng cao năng suất lao động để tiết kiệm thời gian sản xuất, kinh doanh, tiết kiệm chi phí, từ đó DN sẽ thể hiện được năng lực quản lý DN, chắc chắn kết quả đạt được sẽ cao và hoàn thành nhiệm vụ kinh tế xã hội với chi phí thấp nhất. Phân biệt giữa kết quả và hiệu quả kinh doanh Kết quả kinh doanh có thể hiểu là kết quả đạt được của một DN, là giá trị cho thấy quy mô đầu ra của việc SXKD của DN sau mỗi kỳ kinh doanh. Kết quả đạt được nếu được đo bằng thước đo hiện vật thì rất đa dạng và phù hợp với tính chất của sản phẩm nhưng lại khó xác định chính xác vì trong mỗi kì lại luôn có thành phẩm và sản phẩm dở dang. Kết quả đạt được nếu được đo bằng thước đo giá trị thì đó là DT, LN mà DN đạt được, kết quả đạt được 12 khó chính xác do tính không ổn định của thước đo giá trị và quá trình tiêu thụ và thu tiền không trùng nhau, hơn nữa nguồn lực còn bị hao phí trong quá trình kinh doanh.
Trong khi đó, HQKD là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của DN để đạt kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí thấp nhất. HQKD được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Xét về bản chất thì kết quả và HQKD khác nhau hoàn toàn, kết quả phản ánh quy mô đạt được là lớn hay nhỏ và không phản ánh chất lượng HĐKD. Sau khi có kết quả đạt được, người ta mới tính đến HQKD.
Kết quả kinh doanh dùng để tính toán và phân tích HQKD trong một khoảng thời gian nào đó: một ngày, một tháng, một quý hoặc một năm. Còn HQKD phản ánh kết quả đạt được được chi phí nhất định. Từ đó ta có thể thấy kết quả và HQKD tuy khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc đánh giá HQKD mới xác định được DN làm ăn có hiệu quả hay không.
Sau khi xác định được kết quả kinh doanh, DN phải tính đến để đạt được kết quả đó thì phải bỏ ra bao nhiêu chi phí cho nguồn lực đầu vào như nhân công, máy móc, trang thiết bị, đầu vào,… sử dụng các nguồn lực SXKD có hiệu quả không và có tiết kiệm được chi phí đầu vào không, từ đó mới xác định được DN làm ăn có hiệu quả hay không. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh Trong cơ chế thị trường, các DN phải cạnh tranh nhau thì mới có thể tồn tại được. Quy luật cạnh tranh buộc mỗi DN chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi luôn biết tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh. Để tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh, các DN phải nâng cao HQKD thông qua việc nâng cao trình độ, đổi mới HĐKD, đổi mới công tác quản lý, đổi mới công nghệ, cải 13 tiến nghiệp vụ kinh doanh, quản lý và sử dụng tốt mọi nguồn lực trong DN.
Thị trường ngày càng phát triển thì các DN càng cạnh tranh ngày một gay gắt và khốc liệt hơn. Để đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường, các DN phải nâng cao HQKD.