CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm, phân loại hiệu quả kinh doanh a) Khái niệm hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một vấn đề đã được các nhà kinh tế học trên thế giới bắt đầu nghiên cứu từ thế kỷ XVIII, đặc biệt nó được tập trung nghiên cứu vào đầu những năm 60 của kỷ XX. Các nhà khoa học, nhà quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh luôn quan tâm nghiên cứu các vấn đề cụ thể như: Hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào được coi là có hiệu quá? Làm thế nào để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp? Hiệu quả kinh doanh biểu hiện cụ thể như thế nào? Làm thế nào để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp? Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế liên kết với nền kinh tế hàng hóa, có liên quan trực tiếp với các phạm trù và các quy luật kinh tế khác. Hiệu quả kinh doanh được coi là tiêu chuẩn, là thước đo của mọi hoạt động trong doanh nghiệp. Hiện nay khi đề cập đến vấn đề hiệu quả kinh doanh, vẫn còn khá nhiều điểm khác nhau.
Mỗi quan điểm đều đưa ra những đánh giá nhất định về hiệu quả kinh doanh. Bắt đầu phát triển từ giữa thế kỷ XVIII bởi nhà kinh tế học người Anh - Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả chính là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Quan điểm này đã có sự đồng nhất chỉ tiêu hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh, do đó việc đánh giá hiệu quả kinh doanh thực chất chỉ là đánh giá kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh mà không quan tâm đến giá trị đầu tư để đạt được kết quả đó là bao nhiêu. Rõ ràng đánh giá hiệu quả kinh doanh qua kết quả sản xuất kinh doanh theo trường phái quan điểm trên là chưa hoàn toàn hợp lý.
Đôi khi, kết quả sản xuất kinh doanh có thể phản ánh một phần hiệu quả đạt được của quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, kết quả sản xuất kinh doanh không cố định mà có thể thay đổi do thay đổi chi phí đầu tư hoặc thay đổi việc sử dụng các nguồn lực. Hơn thế nữa, nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng ta lại có cùng một mức độ hiệu quả, nhưng thực tế khi kết quả như nhau thì năm nào có chi phí thấp hơn hiệu quả sẽ được đánh giá cao hơn. Do đó, nếu đánh giá hiệu quả kinh doanh theo quan điểm này thì sẽ không thể phân biệt đuợc kỳ kinh doanh nào có hiệu quả hơn.
Đây cũng là một quan điểm khác của GS. Ngô Đinh Giao về hiệu quả kinh doanh. Theo ông, tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu mà doanh nghiệp hướng đến, do đó khi nghiên cứu hiệu quả kinh doanh chúng ta cũng đã nhận thấy vai trò rất quan trọng của tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh, có nghĩa là để đánh giá hiệu 7 Luan van quả kinh doanh cũng cần phải quan tâm đến hiệu quả của hoạt động quản lý. Hiệu quả của hoạt động quản lý được đánh giá qua tỷ lệ giữa kết quả có ích của hoạt động quản lý với khối lượng các nguồn đã sử dụng hay đã hao phí để đạt được kết quả đó.
Có thể thấy, quan điểm này đã đề cập đến một khía cạnh hiệu quả rộng lớn là hiệu quả quản lý. Việc đánh giá tổng quát hiệu quả hoạt động quản lý biểu hiện ở kết quả cuối cùng của các hoạt động của chủ thể quản lý (doanh nghiệp, Bộ, ngành, vùng). Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động quản lý lại là kết quả tổng hợp của hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả chính trị, do đó việc xác định rất phức tạp. Theo giáo trình “Phân tích kinh tế doanh nghiệp thương mại” (2008), Đại học Thương Mại: “Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan phản ánh các lợi ích kinh tế - hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội trong đó hiệu quả kinh tế có vai trò, ý nghĩa quyết định”. Theo đó hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả kinh tế cao nhất với chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh đầu vào và đầu ra trong quá trình hoạt động kinh doanh. Trên góc độ này mà xem xét thì phạm trù hiệu quả có thể đồng nhất với phạm trù lợi nhuận.
Hiệu quả kinh doanh cao hay thấp là tuỳ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý trong doanh nghiệp. Đây là quan niệm khá phổ biến được rất nhiều người thừa nhận. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp còn gắn chặt với hiệu quả kinh tế của toàn xã hội, chính vì thế khi xem xét hiệu quả kinh doanh cần xem xét cả về mặt định tính lẫn định lượng. Về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh tế là những nỗ lực, phấn đấu của doanh nghiệp, phản ánh trình độ quản lý của doanh nghiệp đồng thời gắn với việc đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu của doanh nghiệp và toàn xã hội.
Về mặt định lượng, hiệu quả kinh doanh biểu thị sự tương quan giữa kết quả thu được với chi phí doanh nghiệp bỏ ra hay còn gọi là yếu tố nguồn lực đầu vào. Hiệu quả kinh doanh là một trong các công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị thực hiện các chức năng của mình. Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không chỉ cho biết việc sản xuất đạt ở trình độ nào mà còn cho phép nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả 2 phương diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả. Dựa vào tình hình thực tế của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh, tác giả quyết định sử dụng khái niệm hiệu quả theo quan điểm của giáo trình “Phân tích kinh tế doanh nghiệp thương mại” (2008), Đại học Thương Mại để tập trung vào các nguồn nhân lực, vật lực.
8 Luan van b) Phân loại hiệu quả kinh doanh Phạm trù hiệu quả có thể biểu hiện ở những dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trưng, ý nghĩa cụ thể của hiệu quả. Việc phân loại hiệu quả theo những tiêu thức khác nhau là cơ sở để xác định mức hiệu quả, các chỉ tiêu và những biện pháp nâng cao hiệu quả. Có một số cách chủ yếu phân loại hiệu quả sau đây: - Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội + Hiệu quả xã hội là phạm trù phản ánh kết quả việc thực hiện các mục tiêu về mặt xã hội, như cải thiện đời sống người lao động, giải quyết việc làm, cải thiện môi trường. Hiệu quả xã hội của nền sản xuất do quan hệ sản xuất và mục địch của nền sản xuất quy định.
+ Hiệu quả kinh tế là mối tương quan giữa kết quả đạt được về mặt kinh tế với các chi phí hoặc nguồn lực sử dụng vào quá trình sản xuất để tạo ra kết quả đó. Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế có mối quan hệ hữu cơ với nhau, là hai mặt của một vấn đề. Bởi vậy khi tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như khi đánh giá hiệu quả của các hoạt động này cần xem xét cả hai mặt này một cách đồng bộ. Hiệu quả kinh tế không đơn thuần chỉ là các thành quả kinh tế, vì trong kết quả và chi phí kinh tế có các yếu tố nhằm đạt hiệu quả xã hội.
Tương tự hiệu quả xã hội tồn tại phụ thuộc vào kết quả và chi phí nảy sinh trong hoạt động kinh tế. Không thể có hiệu quả kinh tế mà không có hiệu quả xã hội, ngược lại hiệu quả kinh tế là cơ sở, là nền tảng của hiệu quả xã hội. - Hiệu quả tuyệt đổi và hiệu quả so sánh Việc xác định hiệu quả nhằm hai mục đích cơ bản là để thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các dạng chi phí và nguồn lực được huy động; để phân tích, luận chứng về kinh tế các phương án khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó, từ đó lựa chọn một phương án có lợi nhất. Để thực hiện hai mục đích trên cần thiết phải phân định rõ hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh.
+ Hiệu quả tuyệt đối: Được tính toán cho từng phương án cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng nguồn lực (hoặc chi phí nguồn lực) bỏ ra. + Hiệu quả so sánh: Được thực hiện bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án với nhau nhằm mục đích so sánh mức độ hiệu quả của phương án, từ đó cho phép lựa chọn cách làm có hiệu quả cao nhất. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, song, chúng lại có tính độc lập tương đối. Trước hết, xác định hiệu quả tuyệt đối là cơ sở để xác định hiệu quả so sánh.
Nghĩa là, trên cơ sở những chỉ tiêu tuyệt đối của từng phương án, người ta so sánh mức hiệu quả của các phương án với nhau. Mức chênh lệch chính là hiệu quả so sánh. 9 Luan van Tuy vậy, có những chỉ tiêu hiệu quả so sánh được xác định không phụ thuộc vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối, chẳng hạn việc so sánh giữa mức chi phí của các phương án với nhau để chọn ra phương án có chi phí thấp, thực chất chỉ là sự so sánh mức chi phí của các phương án chứ không phải là việc so sánh mức hiệu quả tuyệt đối của các phương án. - Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận: + Hiệu quả kinh doanh tổng hợp: Là phạm trù kinh tế phản ánh sự phát triền kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình sản xuất nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh.
+ Hiệu quả kinh doanh bộ phận: Thể hiện trình độ sử dụng các nguồn lực vốn, lao động…theo mục đích đã xác định. Tức là thông qua hiệu quả bộ phận, ta có thể xác định được đã sử dụng nguồn nhân sự, nguồn vốn… như thế nào trong quá trình sản xuất.