Chương 1: Lý luận chung về kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC Chương 2: Thực trạng công tác kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn kế toán An Phát (APS) thực hiện. Chương 3: Biện pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC do công ty TNHH Kiểm toán và tư vấn kế toán An Phát (APS) thực hiện. Em hoàn thành được đề tài này là nhờ sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn: Thạc sỹ Trần Thị Thanh Thảo, các thầy cô giáo trong khoa, cùng Sinh viên: Phạm Thị Thu Hà Page 3 Khóa luận tốt nghiệp ban giám đốc, các anh chị phòng NV3 trong công ty kiểm toán An Phát. Qua đây em muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo Trần Thị Thanh Thảo, các thầy cô trong khoa cùng toàn thể công ty kiểm toán An Phát.
Do năng lực bản thân còn hạn chế cũng như kinh nghiệm còn ít nên bài viết của em còn nhiều thiếu sót, mong thầy cô quan tâm, góp ý để em hoàn thiện bài khóa luận này. Sinh viên: Phạm Thị Thu Hà Page 4 Khóa luận tốt nghiệp DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Viết tắt Đầy đủ Viết tắt Đầy đủ BCĐPS Bảng cân đối phát sinh DN Doanh nghiệp BCKT Báo cáo kiểm toán HĐQT Hội đồng quản trị BCTC Báo cáo tài chính HTK Hàng tồn kho BGĐ Ban giám đốc KH Khách hàng CĐKT (Bảng) Cân đối kế toán KSCL Kiểm soát chất lượng CMKT Chuẩn mực kế toán KSNB Kiểm soát nội bộ CMKiT Chuẩn mực kiểm toán KTV Kiểm toán viên LĐ Lao động TSCĐ Tài sản cố định TQL Thư quản lý XDCB Xây dựng cơ bản TK Tài khoản Sinh viên: Phạm Thị Thu Hà Page 5 Khóa luận tốt nghiệp CÁC KÝ TỰ KIỂM TOÁN QUY ƢỚC: Ký hiệu Ý nghĩa √ Kí hiệu này điền trong ô vuông □ để thể hiện có tài liệu lưu trong hồ sơ kiểm toán hoặc thể hiện dữ kiện nêu ra là đúng × Kí hiệu này điền trong ô vuông □ để thể hiện không có tài liệu lưu trong hồ sơ kiểm toán hoặc thể hiện dữ kiện nêu ra là sai N/A Không áp dụng / None applicapble BS Khớp với số liệu trên Bảng cân đối kế toán / Agreed to balance sheet: ký hiệu này đặt sau số liệu để thể hiện KTV đã đối chiếu số liệu đó phù hợp với số liệu trên BCĐKT PL Khớp với số liệu trên Báo cáo kết quả kinh doanh / Agreed to profit and loss statement: kí hiệu này đặt sau số liệu để thể hiện KTV đã đối chiếu số liệu đó phù hợp với số liệu trên BCKQKD PY Khớp với số liệu trên BCKT năm trước / Agreed to previous year’s report: kí hiệu này đặt sau số liệu để thể hiện KTV đã đối chiếu số liệu đó phù hợp với số liệu trên BCTC đã kiểm toán năm trước TB Khớp với số liệu trên Bảng cân đối phát sinh / Agreed to trial balance: kí hiệu này đặt sau số liệu để thể hiện KTV đã đối chiếu số liệu đó phù hợp với số liệu trên BCĐPS LS Khớp với số liệu trên bảng số liệu tổng hợp / Agreed to leadsheet: kí hiệu này đặt sau số liệu để thể hiện KTV đã đối chiếu số liệu đó phù hợp với số liệu trên Bảng số liệu tổng hợp GL Khớp với số liệu trên sổ cái / Agreed to general ledger: ký hiệu này đặt sau số liệu để thể hiện KTV đã đối chiếu số liệu đó phù hợp với số liệu trên sổ cái tài khoản SL Khớp với số liệu trên sổ chi tiết / Agreed to sub- ledger: kí hiệu Sinh viên: Phạm Thị Thu Hà Page 6 Khóa luận tốt nghiệp này đặt sau số liệu để thể hiện KTV đã đối chiếu số liệu đó phù hợp với số liệu trên sổ chi tiết tài khoản AC Khớp với số liệu trên thư xác nhận / Agreed to audit confirmation: kí hiệu này đặt sau số liệu để thể hiện KTV đã đối chiếu số liệu đó phù hợp với số liệu trên thư xác nhận do KTV gửi Lưu ý: Tất cả cá ký hiệu tham chiếu cần được ghi bằng mực đỏ và ghi nhỏ, gọn bên cạnh số liệu. Sinh viên: Phạm Thị Thu Hà Page 7 Khóa luận tốt nghiệp CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TSCĐ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Tổng quan về kiểm toán Báo cáo tài chính khoản mục TSCĐ 1.1 Khái niệm kiểm toán Báo cáo tài chính Hiện nay, khái niệm “ Kiểm toán báo cáo tài chính” vẫn có nhiều cách dùng và cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất thì kiểm toán báo cáo tài chính được hiểu như sau: Kiểm toán báo cáo tài chính là hoạt động của các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán về các báo cáo tài chính được kiểm toán nhằm kiểm tra và báo cáo về mức độ trung thực của báo cáo tài chính được kiểm toán với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đã được thiết lập.2 Đối tượng của kiểm toán báo cáo tài chính và cách tiếp cận 1.1 Đối tượng của kiểm toán báo cáo tài chính Trong kiểm toán báo cáo tài chính, đối tượng kiểm toán là các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính: gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, và Thuyết minh báo cáo tài chính.
Các báo cáo này chứa đựng những thông tin tài chính phản ánh kết quả, các mặt hoạt động của doanh nghiệp bằng các chỉ tiêu giá trị, tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình và kết quả lưu chuyển tiền tệ và các thông tin cần thiết khác để nhà quản lý, chính phủ, các ngân hàng, nhà đầu tư, cho người bán, người mua sử dụng báo cáo tài chính có thể phân tích, đánh giá đúng đắn tình hình và kết quả kinh doanh của đơn vị.2 Các cách tiếp cận Báo cáo tài chính được kiểm toán bằng việc chia báo cáo tài chính thành các bộ phận. Có hai phương pháp tiếp cận kiểm toán báo cáo tài chính là phương pháp trực tiếp và phương pháp chu kỳ. Phương pháp trực tiếp ( kiểm toán theo khoản mục ) tiếp cận báo cáo tài Sinh viên: Phạm Thị Thu Hà Page 8 Khóa luận tốt nghiệp chính theo các chỉ tiêu hoặc nhóm chỉ tiêu như tiền, hàng tồn kho tài sản cố định v. Theo phương pháp này nội dung kiểm toán và đối tượng thông tin trực tiếp của kiểm toán là như nhau nên dễ xác định.
Tuy nhiên, các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính không hoàn toàn độc lập với nhau nên việc triển khai kiểm toán theo phương hướng này thường không đạt hiệu quả cao. Phương pháp tiếp cận kiểm toán theo chu kỳ, theo phương pháp này, những chỉ tiêu có liên quan đến cùng một loại nghiệp vụ được nghiên cứu trong mối quan hệ với nhau. Các nghiệp vụ, các chỉ tiêu có thể khái quát thành các chu kỳ sau: - Chu kỳ mua hàng và thanh toán. - Chu kỳ bán hàng và thu tiền.
- Chu kỳ nhân sự và tiền lương. - Chu kỳ hàng tồn kho chi phí và giá thành. - Chu kỳ huy động vốn và hoàn trả. - Kiểm toán tiền.
Kiểm toán nghiệp vụ cho phép xác định hoặc thu hẹp phạm vi kiểm toán cơ bản đối với các số dư hoặc số tiền trên báo cáo tài chính. Dù tiếp cận theo phương pháp trực tiếp hay phương pháp chu kỳ, cuối cùng kiểm toán viên vẫn phải đưa ra ý kiến nhận xét tổng quát, toàn bộ về báo cáo tài chính được kiểm toán. Nhưng do các nghiệp vụ ảnh hưởng và kết nối số dư trong mỗi chu kỳ, giữa các chu kỳ lại có mối liên hệ chặt chẽ hơn với nhau nên kiểm toán theo chu kỳ sẽ khoa học hơn và tiết kiệm chi phí hơn so với phương pháp tiếp cận trực tiếp. Đối với TSCĐ, Kiểm toán viên tiến hành kiểm toán theo khoản mục 1.3 Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán báo cáo tài chính 1.1 Khái niệm và đặc điểm của TSCĐ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam ( Chuẩn mực 03, 04 – Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 ), một nguồn lực của doanh nghiệp được coi là TSCĐ phải có đủ 4 tiêu chuẩn sau: Sinh viên: Phạm Thị Thu Hà Page 9 Khóa luận tốt nghiệp - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó - Nguyên giá tài sản cố định phải được xác định một cách đáng tin cậy - Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm - Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành Đặc điểm cơ bản nhất của TSCĐ là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất – kinh doanh, TSCĐ bị hao mòn dần và giá trị của nó được dịch chuyển từng phần vào chi phí kinh doanh. Khác với đối tượng lao động. tài sản cố định giữ nguyên hình thái ban đầu cho đến lúc hư hỏng. Đối với tài sản cố định, giá trị tài sản cố định vô hình và việc phân biệt tài sản thuê tài chính với tài sản thuê hoạt động thường khó xác định.
Ngoài ra, trong quá trình sử dụng, doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý công suất để phát triển sản xuất, phải tiến hành bảo dưỡng, sửa chữa TSCĐ.2 Phân loại TSCĐ a. TSCĐ hữu hình: Do TSCĐ trong doanh nghiệp có nhiều loại với nhiều hình thái biểu hiện, tính chất đầu tư, công dụng và tình hình sử dụng khác nhau… nên để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán TSCĐ, cần sắp xếp TSCĐ vào từng nhóm theo những đặc trưng nhất định như phân theo quyền sở hữu, phân theo nguồn hình thành, phân theo hình thái biểu hiện, phân theo hình thái biểu hiện kết hợp tính chất đầu tư, … Mỗi một cách phân loại có tác dụng khác nhau đối với công tác hạch toán và quản lý TSCĐ. Trong các cách phân loại trên thì cách phân loại theo hình thái biểu hiện kết hợp tính chất đầu tư là cách phân loại được sử dụng phổ biến hiện nay trong công tác hạch toán và quản lý TSCĐ ở các doanh nghiệp. Theo cách phân loại này, TSCĐ trong doanh nghiệp được chia thành: - Tài sản cố định hữu hình: là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình.