phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục sơ đồ bảng biểu, danh mục từ viết tắt và phụ lục, khóa luận gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về quy trình kiểm soát chất lƣợng hoạt động kiểm toán BCTC Chƣơng 2: Thực trạng quy trình kiểm soát chất lƣợng hoạt động kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Hãng Kiểm toán AASC Chƣơng 3: Giải pháp góp phần hoàn thiện quy trình kiểm soát chất lƣợng hoạt động kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Hãng Kiểm toán AASC Em xin chân thành cảm ơn sự hƣớng dẫn tận tình của TS. Bùi Thị Thanh Tình – PCN Bộ môn Lý thuyết Kế toán cùng các thầy cô giáo trong Khoa Kế toán – Kiểm toán – Học viện Ngân hàng và sự giúp đỡ của Ban Tổng Giám đốc, các anh chị thuộc phòng kiểm toán 6 cũng nhƣ các nhân viên hành chính trong Công ty TNHH Hãng Kiểm toán AASC đã giúp em hoàn thành đề tài luận khóa luận tốt nghiệp này. Tuy nhiên do sự hạn chế về thời gian cùng với sự giới hạn về kinh nghiệm và kiến thức nên bài khóa luận của em không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy em rất mong nhận đƣợc sự đóng góp của các thầy cô và các anh chị kiểm toán viên trong công ty để em hoàn thiện khóa luận và nâng cao hiểu biết bản thân.
Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2018 Sinh viên Hà Thị Thúy SV: Hà Thị Thúy Lớp: K17KTM Khóa luận tốt nghiệp 4 GVHD: TS Bùi Thị Thanh Tình CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY TRÌNH KIỂM SOÁT CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT CHẤT LƢỢNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Chất lƣợng kiểm toán và tầm quan trọng của chất lƣợng kiểm toán 1.1 Định nghĩa về chất lƣợng hoạt động kiểm toán Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 (VSA 220 - Kiểm soát chất lƣợng hoạt động kiểm toán): “Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của kiểm toán viên; đồng thời thỏa mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý.” Chất lƣợng kiểm toán thể hiện ở “sản phẩm” cuối cùng của quá trình kiểm toán, đó là các báo cáo kiểm toán. Quá trình kiểm toán tƣơng tự nhƣ một quá trình sản xuất, nó diễn ra theo trình tự các bƣớc công việc nhất định, từ khâu lập kế hoạch kiểm toán, tiến hành kiểm toán đến lập báo cáo kiểm toán. Để có đƣợc các sản phẩm kiểm toán đạt chất lƣợng, tất cả các giai đoạn của quá trình kiểm toán đều phải đạt đƣợc những tiêu chuẩn nhất định.2 Tầm quan trọng của chất lƣợng kiểm toán Chất lƣợng kiểm toán có ý nghĩa quan trọng, trƣớc hết đối với ngƣời sử dụng kết quả kiểm toán, ý kiến kiểm toán là cơ sở để họ tin tƣởng và sử dụng các thông tin mà họ đƣợc cung cấp. Mọi sự không phù hợp nào trong việc đƣa ra ý kiến của kiểm toán viên và công ty kiểm toán đều làm ảnh hƣởng đến quyết định của những ngƣời sử dụng kết quả kiểm toán và có thể gây ra các thiệt hại về kinh tế đối với họ.
Đối với kiểm toán viên và công ty kiểm toán, sự không phù hợp trong ý kiến kiểm toán cũng nhƣ không làm thoả mãn sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ sẽ dẫn đến mất uy tín và công ty có nguy cơ mất thị trƣờng khách hàng. Chất lƣợng kiểm toán phản ánh kết quả làm việc, hiệu quả của quy trình kiểm toán công ty áp dụng, là yếu tố SV: Hà Thị Thúy Lớp: K17KTM Khóa luận tốt nghiệp 5 GVHD: TS Bùi Thị Thanh Tình quan trọng trong cạnh tranh thu hút khách hàng, xây dựng uy tín của công ty với khách hàng. Trong phạm vi một cuộc kiểm toán: Chất lƣợng kiểm toán là yếu tố đánh giá hiệu quả làm việc, năng lực của nhóm kiểm toán, tính trung thực độc lập của kiểm toán viên, khả năng thu thập bằng chứng kiểm toán, tính phù hợp khi đƣa ra ý kiến kiểm toán. Với báo cáo tài chính đƣợc kiểm toán: Chất lƣợng kiểm toán sẽ là căn cứ để tạo nên độ tin cậy của báo cáo tài chính đƣợc kiểm toán, cuộc kiểm toán đƣợc đánh giá với chất lƣợng tốt thì báo cáo kiểm toán và báo cáo tài chính đƣợc kiểm toán có độ tin cậy cao.2 Kiểm soát chất lƣợng hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính Khoản 3 Điều 3 Thông tƣ 157/2014/TT-BTC: Kiểm soát chất lƣợng dịch vụ kiểm toán là việc kiểm tra chất lƣợng dịch vụ kiểm toán, giám sát hoạt động kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán và kiểm toán viên hành nghề trên cơ sở các quy định, thủ tục do cơ quan có thẩm quyền xây dựng và ban hành nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp kiểm toán, kiểm toán viên hành nghề tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp, pháp luật và các quy định có liên quan trong quá trình hoạt động.
Mục tiêu chung của kiểm soát chất lƣợng dịch vụ kiểm toán là nhằm bảo đảm cho kiểm toán viên tuân thủ đúng chuẩn mực nghề nghiệp và chuẩn mực chất lƣợng theo quy định, nhằm tạo ra những sản phẩm kiểm toán đạt tiêu chuẩn chất lƣợng, đáp ứng yêu cầu của các đối tƣợng sử dụng kết quả kiểm toán. Các mục tiêu cụ thể là: - Việc kiểm toán đƣợc thực hiện phù hợp với các chuẩn mực kiểm toán, quy trình kiểm toán, phƣơng pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán và các quy chế, quy định khác trong hoạt động kiểm toán; - Các thành viên của đoàn kiểm toán hiểu rõ và nhất quán về kế hoạch kiểm toán, tổ chức thực hiện kiểm toán, lập báo cáo kết quả kiểm toán; - Các ý kiến đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán có đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp, phù hợp với các chuẩn mực đã quy định. Tất cả các lỗi, SV: Hà Thị Thúy Lớp: K17KTM Khóa luận tốt nghiệp 6 GVHD: TS Bùi Thị Thanh Tình thiếu sót và các vấn đề không bình thƣờng phải đƣợc nhận biết, lƣu lại bằng văn bản và giải quyết đúng đắn hoặc báo cáo cho ngƣời có thẩm quyền cao hơn xem xét, xử lý; - Đạt đƣợc các mục tiêu kiểm toán đã đặt ra; báo cáo kiểm toán phải bao gồm đầy đủ các ý kiến đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán liên quan đến cuộc kiểm toán; - Rút ra những kinh nghiệm nhằm cải thiện hoạt động kiểm toán trong tƣơng lai. Những kinh nghiệm đó cần phải đƣợc nhận biết, ghi chép và phải đƣợc đƣa vào kế hoạch kiểm toán kỳ sau và trong các hoạt động phát triển nhân sự.
Nhƣ vậy, kiểm soát chất lƣợng hoạt động kiểm toán đã đƣợc thừa nhận nhƣ một chức năng của quản lý hoạt động kiểm toán, là trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm chuyên môn nghề nghiệp của mọi tổ chức kiểm toán, là một trong những chuẩn mực kiểm toán quan trọng trong hoạt động kiểm toán. Do vậy, việc thiết lập và duy trì một hệ thống kiểm soát chất lƣợng hoạt động kiểm toán là một trong những nhiệm vụ không thể thiếu đƣợc của các tổ chức kiểm toán. Thiết lập và duy trì cơ chế kiểm soát chất lƣợng hoạt động kiểm toán chặt chẽ, có hiệu quả, các tổ chức kiểm toán sẽ đảm bảo với công chúng rằng, kết quả kiểm toán trƣớc khi đến với công chúng đã đƣợc kiểm soát, chất lƣợng kiểm toán đƣợc bảo đảm, từ đó củng cố đƣợc lòng tin của công chúng vào chất lƣợng kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên. Ngƣợc lại, nếu chất lƣợng kiểm toán không đƣợc kiểm soát, hoặc kiểm soát không có hiệu quả thì lòng tin của công chúng vào chất lƣợng kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên khó tránh khỏi sự lung lay.3 Các tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lƣợng hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính Dựa trên định nghĩa về chất lƣợng kiểm toán theo VSA 220, ta có thể đƣa ra những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lƣợng hoạt động kiểm toán, bao gồm: - Mức độ thỏa mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những đối tƣợng sử dụng kết quả kiểm toán; SV: Hà Thị Thúy Lớp: K17KTM Khóa luận tốt nghiệp 7 GVHD: TS Bùi Thị Thanh Tình - Mức độ thỏa mãn về những đóng góp của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính của đơn vị đƣợc kiểm toán theo đúng chế độ chính sách của nhà nƣớc cũng nhƣ các quy định riêng của đơn vị; - Báo cáo kiểm toán đƣợc phát hành theo đúng thời gian đã đề ra trong hợp đồng kiểm toán và chi phí cho dịch vụ kiểm toán ở mức độ phù hợp.4 Các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng hoạt động kiểm toán 1.1 Nhóm các yếu tố bên ngoài a.
Nhu cầu của nền kinh tế: Ở bất cứ trình độ nào, với mục đích sử dụng là gì, chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ bao giờ cũng bị chi phối, bị ràng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu nhất định của nền kinh tế. Ảnh hƣởng của nhu cầu của nền kinh tế đối với chất lƣợng hoạt động kiểm toán thể hiện qua: Đòi hỏi của thị trường: Ở những thị trƣờng khác nhau có những đòi hỏi khác nhau và đối tƣợng khác nhau thì yêu cầu khác nhau. Có những đối tƣợng cần kiểm toán bởi theo quy định của nhà nƣớc phải kiểm toán, có đối tƣợng cần kiểm toán do yêu cầu quản lý của bản thân họ hay do yêu cầu của bên thứ 3, đối tác kinh doanh,…Dù kiểm toán cho đối tƣợng nào đi chăng nữa thì công việc kiểm toán cũng phải tuân theo pháp luật và các chuẩn mực nghề nghiệp. Tuy nhiên các điều kiện riêng của từng đối tƣợng này là khác nhau, doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài khác với doanh nghiệp nhà nƣớc và khác với công ty cổ phần.
Luật pháp điều chỉnh đối với các đối tƣợng này không giống nhau, hệ thống quản lý, kiểm soát nội bộ của họ cũng rất khác nhau và mục đích sử dụng kiểm toán cũng không thống nhất. Điều này thực sự sẽ ảnh hƣởng đến chất lƣợng hoạt động kiểm toán.