CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa và yếu tố ảnh hưởng đến công tác khám nghiệm hiện trường 1. Khái niệm Hiện trường vụ án hình sự là nơi xảy ra, nơi phát hiện vụ việc mang tính hình sự, cơ quan điều tra cần tiến hành khám nghiệm để phát hiện, thu thập, đánh giá các dấu vết, đồ vật, tin tức tài liệu. có liên quan để làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ việc đã xảy ra theo quy định của pháp luật.
Công tác khám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra tố tụng tại nơi xảy ra vụ, việc mang tính hình sự, được tiến hành với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hình sự chuyên dùng, theo trình tự và thủ tục tố tụng hình sự, để nhanh chóng phát hiện, thu thập, bảo quản và đánh giá các dấu vết, tài liệu, vật chứng nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra và người thực hiện hành vi phạm tội; đồng thời góp phần củng cố chứng cứ phục vụ công tác điều tra, truy tố và xét xử tội phạm. Theo quy định tại Điều 201 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khám nghiệm hiện trường như sau: “1. Điều tra viên chủ trì tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án. Trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết về thời gian, địa điểm tiến hành khám nghiệm để cử Kiểm sát viên kiểm sát khám nghiệm hiện trường.
Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường. Khi khám nghiệm hiện 9 trường phải có người chứng kiến; có thể cho bị can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng tham gia và mời người có chuyên môn tham dự việc khám nghiệm. Khi khám nghiệm hiện trường phải tiến hành chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô hình; xem xét tại chỗ và thu lượm dấu vết của tội phạm, tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án; ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản. Biên bản khám nghiệm hiện trường được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này.
Trường hợp không thể xem xét ngay được thì tài liệu, đồ vật thu giữ phải được bảo quản, giữ nguyên trạng hoặc niêm phong đưa về nơi tiến hành điều tra”. Căn cứ vào nội dung, tính chất vụ việc đã xảy ra, hiện trường được phân loại thành như sau: Thứ nhất, hiện trường có người chết; Thứ hai, hiện trường trộm; Thứ ba, hiện trường cháy, nổ; Thứ tư, hiện trường cướp; Thứ năm, hiện trường tai nạn. Căn cứ địa điểm xảy ra, địa điểm phát hiện, hiện trường được phân loại thành như sau: Thứ nhất, hiện trường trong nhà; Thứ hai, hiện trường ngoài trời; Thứ ba, hiện trường dưới nước; Thứ tư, hiện trường trên phương tiện giao thông. Căn cứ vào tình trạng hiện trường, hiện trường được phân loại thành như sau: Thứ nhất, hiện trường nguyên vẹn; Thứ hai, hiện trường xáo trộn.
Căn cứ vào diễn biến quá trình phạm tội, hiện trường được phân loại thành như sau: Thứ nhất, hiện trường nơi chuẩn bị phạm tội; Thứ hai, hiện trường nơi thực hiện hành vi phạm tội; Thứ ba, hiện trường nơi che dấu tội phạm. Đặc điểm khám nghiệm hiện trường Thứ nhất, khám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra ban đầu của cơ quan điều tra, nên phải được tiến hành kịp thời, khẩn trương, nhanh chóng. 10 Khi có vụ án hình sự xảy ra, Cơ quan điều tra phải nhanh chóng có mặt tại hiện trường vụ án để áp dụng các biện pháp bảo vệ nguyên trạng hiện trường nhằm phục vụ tốt nhất cho công tác ghi nhận, thu thập các dấu vết của vụ án hình sự tại hiện trường; kịp thời phối hợp với các cơ quan chức năng để tiến hành khám nghiệm hiện trường theo quy định của pháp luật. Thứ hai, khám nghiệm hiện trường được tiến hành theo trình tự những quy định của pháp luật tố tụng hình sự để thu thập tài liệu, chứng cứ, chứng minh làm rõ những hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi phạm tội đó ngay tại hiện trường.
Tùy theo từng hiện trường thực tế xảy ra, sau khi đã quan sát kỹ tại hiện trường thì có thể tiến hành khám nghiệm từ ngoài vào trong và ngược lại từ trong ra ngoài, mục đích là làm rõ kết quả hiện trường. Đồng thời thu thập những vật chứng, dấu vết, công cụ, phương tiện có tại hiện trường để phục vụ cho công tác nghiên cứu điều tra và qua kết quả phân tích, giám định khoa học kỹ thuật hình sự của cơ quan có thẩm quyền chuyên môn đối với những mẫu vật cần thiết đã được gửi đi giám định, để xác định xem là có dấu hiệu về hình sự hay không, xác định nguyên nhân xảy ra để có căn cứ khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Về trình tự thu thập và bảo quản vật chứng, dấu vật, công cụ, phương tiện đã xảy ra có tại hiện trường được tiến hành theo định của pháp luật tố tụng hình sự quy định, cụ thể phải do Điều tra viên, Kiểm sát viên, cán bộ điều tra tiến hành thu thập và bảo quản, đảm bảo không bị xáo trộn, nhầm lẫn, được niêm phong cần thận và các thành phần chứng kiến ký xác nhận vào biên bản và các mẫu, vật được niêm phong ngay tại hiện trường. Thứ ba, khám nghiệm hiện trường phải đảm bảo tính khách quan, chính xác, toàn diện, tỷ mỉ, thận trọng và khoa học.
Khi có vụ, việc xảy ra, qua tin báo của quần chúng nhân dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân, cơ quan Điều tra Công an xét thấy cần thiết phải khám nghiệm hiện trường để xác minh làm rõ vụ, việc 11 thì thành lập Hội đồng khám nghiệm và thông báo cho Viện kiểm sát biết cùng tham gia. Trước khi tiến hành công việc khám nghiệm thì ĐTV và KSV phải thống nhất nội dung khám nghiệm, đảm bảo đúng quy trình, xác định phạm vi, giới hạn khu vực khám nghiệm cần bảo vệ, việc quan sát xem hiện trường còn nguyên vẹn hay đã bị xáo trộn, cố gắng bảo vệ được hiện trường, không để những thành phần, đối tượng không nhiệm vụ liên quan tham gia, đi lại vào khu vực. Khi thao tác thì đo đạc khoảng cách, kích thước dấu vết, đồ vật.đối với các mẫu, vật thấy cần thiết thì phải thu giữ, niêm phong ngay tại hiện trường. Việc thực hiện khám nghiệm này phải là do ĐTV, KSV, Cán bộ điều tra tiến hành, có nhà chuyên môn tham gia và có người chứng kiến.
Việc tiến hành đo đạc, kẻ vẽ sơ đồ phải có mặt KSV chứng kiến và cùng ghi chép số liệu, kết quả đo đạc, kẻ vẽ xác định đến đâu thì ghi chép đến đó phải cụ thể, chính xác, không được thiếu hoặc thừa, tiến hành đo đạc theo quấn chiếu, làm đến đâu thì khóa đến đó, tuyệt đối không được sai sót, bỏ qua bất kỳ dấu vết gì và bỏ sót mẫu, vật gì, việc thu giữ mẫu, vật, Điều tra viên, cán bộ điều tra phải có găng tay, dụng cụ cần thiết để thu giữ, không được tùy tiện sờ mó vào những dấu vết, vật chứng trước khi thu giữ niêm phong, không để mất, hoặc xóa dấu vết hoặc xáo trộn, nhầm lẫn, đảm bảo việc thu giữ đúng và đủ chủng loại mà đã qua đo đạc xác định. Đối với những mẫu, vật khác chưa được đo đạc, xác định thì tuyệt đối không được thu giữ. Thứ tư, khám nghiệm hiện trường phải có sự chỉ đạo thống nhất và sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng khám nghiệm. Ngay từ khi thành lập Hội đồng khám nghiệm thì phải có sự chỉ đạo thống nhất của thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra đối với Điều tra viên và cán bộ điều tra về phân công trách nhiệm và nhiệm vụ, cụ thể như: Thành phần lực lượng bảo vệ hiện trường, Điều tra viên chủ trì việc khám nghiệm, cán bộ điều tra thì kẻ vẽ sơ đồ, đo đạc hiện trường, các dấu vết, cán bộ trinh sát thì tiến hành xác minh lấy lời khai của các 12 nhân chứng, người dân xung quanh, khoanh vùng lấy lời khai các nhóm đối tượng nghi vấn đã có tiền án, tiền sự và nhân thân xấu; nếu hiện trường giao thông thì cán bộ Cảnh sát giao thông phải giúp Điều tra viên kẻ vẽ sơ đồ hiện trường và giúp đo đạc hiện trường cùng các phương tiện giao thông (nếu có) ghi chép các số liệu vào biên bản hiện trường.
Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, có các nhà chuyên môn tham gia và có người chứng kiến. Trước và sau khi kết thúc việc khám nghiệm về số liệu và biên hiện trường cùng với các biên bản khác là phải có sự thống nhất giữa KSV, ĐTV và các thành phần cùng tham gia khám nghiệm khác, nếu có phát sinh tình tiết mới hoặc có ý kiến khác mâu thuẫn thì KSV, ĐTV và các thành phần khám nghiệm phải có trách nhiệm giải quyết, cùng thống nhất vụ, việc, không để xảy mâu thuẫn, nghi kị với nhau khác quan điểm trái ngược nhau, nếu không thể tự giải quyết được ngay tại hiện trường thì báo cáo lãnh đạo giữa Cơ quan Điều tra, VKS để cùng thống nhất giải quyết dứt điểm vụ, việc, tránh làm ảnh hưởng mất uy tín của ngành đối với nhân dân và cấp ủy chính quyền địa phương. Thứ năm, khám nghiệm hiện trường là hoạt động đòi hỏi chủ thể tiến hành khám nghiệm vừa có kiến thức vững về pháp luật, có am hiểu về nghĩa vụ điều tra, đặc biệt phải có nghiệp vụ chuyên sâu về kỹ thuật hình sự. Xác định đây là công việc nhiệm vụ đặc thù không phải cấp, ngành nào cũng hiểu biết và thực hiện được mà chỉ có đặc thù của ngành kiểm sát và cơ quan Điều tra, bởi vì xuất phát từ quy định của pháp luật tố tụng hình sự quy định: KSV, ĐTV, người chứng kiến là những chủ thể trực tiếp có quyền tham gia KNHT, còn các chủ thể khác thì không bắt buộc hoặc không được quyền tham gia KNHT.