CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP.1 Những vấn đề chung về kế toán quản trị 1.1 Khái niệm về kế toán quản trị Ngày nay, các doanh nghiệp hy vọng kế toán quản trị sẽ đưa ra những thông tin kịp thời và tương đối chính xác bao gồm những thông tin về ngân sách, chi phí chuẩn, những báo cáo phân tích những khía cạnh tài chính khác nhau, thông tin để hỗ trợ cho những quyết định hàng và những phân tích về chi phí mua sắm trang thiết bị. Kế toán quản trị bao gồm cả kỹ thuật tính toán và các thủ tục trong thu thập để trình bày và lập các báo cáo tài chính từ hoạt động sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm nhằm đảm bảo yêu cầu về dữ liệu để đáp ứng nhu cầu thông tin của nhà quản lý. Theo Viện kế toán quản trị Hoa Kỳ: “Kế toán quản trị là quy trình xác định, đo lường, tích luỹ, phân tích, chuẩn bị, giải trình và truyền đạt những thông tin tài chính (hay chi phí tài chính) tới các nhà quản trị, để sử dụng cho mục đích lập kế hoạch, đánh giá và điều chỉnh trong tổ chức, đảm bảo sử dụng hợp lý và chịu trách nhiệm giải trình cho nguồn thông tin đó.Kaplan, trường đại học Havard trường phái kế toán quản trị của Mỹ, “Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong các tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức” Như vậy theo quan điểm này, kế toán quản trị là công cụ gắn liền với hoạt động quản trị của tổ chức. Nó có vai trò quan trọng cho các tổ chức xây dựng các dự toán, hoạch định các chính sách và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức.BOUQIN đại học Paris – Dauphin trường phái kế toán quản trị Pháp, “Kế toán quản trị là một hệ thống thông tin định lượng cung cấp cho các nhà quản trị đưa ra các quyết định điều hành các tổ chức nhằm đạt hiệu quả cao”.
Như vậy theo quan điểm này, kế toán quản trị là công cụ cung cấp thông tin cho các nhà quản trị, dựa vào thông tin đó các nhà quản trị đưa ra quyết định điều hành các hoạt động nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. Theo thông tư 53/2006/TT-BTC do Bộ tài chính ban hành ngày 12/6/2006, quy định: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Theo thông tư này, kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp như: - Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ. - Phân tích mối quan hệ giữa chi phí khối lượng lợi nhuận; - Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; - Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;.
nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế. Từ những phân tích trên ta có thể đưa ra khái niệm kế toán quản trị như sau: Kế toán quản trị là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể. Các thông tin đó giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên 6 quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị.2 Nhiệm vụ của kế toán quản trị trong doanh nghiệp Mục tiêu cơ bản của kế toán là cung cấp thông tin kinh tế tài chính về một thực thể kinh tế. Những thông tin tài chính do kế toán cung cấp rất cần thiết cho những người ra quyết định quản lý, trong việc lập kế hoạch và giám sát hoạt động của thực thể kinh tế đó.
Những thông tin tài chính còn cần cho cả người ngoài doanh nghiệp – các chủ sở hữu, người cho vay tín dụng, các nhà đầu tư, chính phủ và công chúng – những người cung cấp tiền cho doanh nghiệp hoặc có mối quan tâm khác đối với doanh nghiệp. Những người này cũng cần được cung cấp thông tin về tài chính và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy nhiệm vụ cơ bản của kế toán là cung cấp thông tin tài chính cho những người ra quyết định. Để thực hiện được nhiệm vụ này kế toán thực hiện các công việc sau: - Ghi nhận, lượng hoá và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Để thực hiện công việc này kế toán phải sử dụng một hệ thống hoạt động kinh doanh hàng ngày. - Phân loại, hệ thống hoá và tập hợp các nghiệp vụ để ghi sổ theo các chỉ tiêu tổng hợp và chi tiết. Ngoài việc ghi chép để phản ánh hàng ngày, chúng ta phải phân loại các nghiệp vụ và sự kiện thành các nhóm hoặc các loại khác nhau. Để có được các thông tin cần thiết, chúng ta cần tổng hợp các thông tin đã phân loại thành báo cáo kế toán đáp ứng những yêu cầu của người ra quyết định.
Các bước công việc trên đây: ghi chép, phân loại và tổng hợp – là các công cụ để tạo lập hệ thống thông tin kế toán. - Công việc tiếp theo của kế toán là tính toán các chỉ tiêu thông tin theo yêu cầu quản lý trong và ngoài doanh nghiệp. 7 - Công việc sau cùng mà kế toán phải làm là cung cấp số liệu để ra quyết định quản lý. Như vậy là ngoài việc tạo lập hệ thống thông tin, quá trình kế toán còn bao gồm nhiều công việc khác như truyền đạt, cung cấp thông tin cho các bên quan tâm và giải thích các thông tin kế toán cần thiết cho việc ra các quyết định kinh doanh riêng biệt.
Tuy nhiên căn cứ vào đối tượng sử dụng thông tin, người ta phân định kế toán thành hai nhánh: kế toán tài chính và kế toán quản trị. Các doanh nghiệp cần thiết phải tổ chức hệ thống kế toán quản trị, để trước hết thiết lập dự toán ngân sách, chi phí, dự toán số doanh thu và kết quả trong một kỳ hoạt động và sau đó phải theo dõi suốt quá trình từ lúc thu mua hàng hoá, nguyên liệu qua giai đoạn sản xuất, hoàn thành việc tính toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, xác định kết quả tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, các công trình, dịch vụ theo từng loại hoạt động, từng đơn đặt hàng. Như vậy kế toán quản trị là phương tiện để nhà quản lý kiểm soát một cách có hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Và theo Thông tư 53/2006/TT- BTC thì kế toán quản trị có một số nhiệm vụ cơ bản sau: - Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo phạm vi, nội dung kế toán quản trị của đơn vị xác định theo từng thời kỳ.
- Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán - Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo kế toán quản trị. - Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định của ban lãnh đaọ doanh nghiệp.3 Phân biệt kế toán quản trị và kế toán tài chính Như đã trình bày trong những phần trên, trọng tâm của kế toán quản trị là cung cấp thông tin phục vụ cho các nhà quản lý của tổ chức. Trong khi đó, mục tiêu của kế toán tài chính là nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối 8 tương bên ngoài tổ chức. Tuy vậy, hệ thống kế toán quản trị và kế toán tài chính cũng có nhiều điểm giống nhau bởi vì cả hai hệ thống này đều dựa vào dữ liệu thu thập được từ hệ thống kế toán cơ bản của tổ chức.
Hệ thống này bao gồm thủ tục, nhân sự, và hệ thông máy tính để thu thập và lưu trữ các dự liệu tài chính của tổ chức. Một phần của hệ thống kế toán chung này là hệ thống kế toán chi phí, có nhiệm vụ thu thập thông tin chi phí được sử dụng trong cả hệ thống kế toán quản trị và kế toán tài chính. Ví dụ, số liệu về giá thành sản phẩm được nhà quản lý sử dụng để định giá bán sản phẩm, đó là một mục đích sử dụng thông tin của kế toán quản trị. Tuy vậy, số liệu giá thành cũng được sử dụng để xác định giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán, đó lại là một mục đích sử dụng thông tin của kế toán tài chính.
Sơ đồ 1 mô tả mối quan hệ giữa các hệ thống kế toán cơ bản của tổ chức với các hệ thống kế toán chi phí, kế toán quản trị, và kế toán tài chính. Mặc dù, giữa hệ thống kế toán quản trị và hệ thống kế toán tài chính có nhiều điểm chung, nhưng giữa chúng có sự khác biệt rất lớn. Bảng 1 liệt kê những điểm khác biệt giữa hai hệ thống kế toán này.1 - Mối quan hệ giữa các hệ thống kế toán trong một tổ chức 10 Bảng 1.1 - Những điểm khác biệt giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính Các chỉ tiêu Kế toán quản trị Kế toán tài chính 1. Đối tượng sử Nhà quản trị bên trong Những thành phần dụng thông tin doanh nghiệp bên ngoài doanh nghiệp 2.
Đặc điểm của Hướng về tương lai, Phản ánh quá khứ thông tin cung linh hoạt, nhanh, thích chính xác. Biểu diễn dưới hình Biểu diễn dưới hình thái giá trị và vật chất, thái giá trị. thước đo lao động 3. Tính chất bắt Không nhất thiết tuân Tuân thủ các buộc và thông thủ các nguyên tắc của nguyên tắc của kế tin báo cáo kế toán.
Phạm vi báo Từng bộ phận Toàn doanh nghiệp cáo 5. Kỳ báo cáo Bất kỳ khi nào cần cho Định kỳ hàng tháng, quản lý quí, năm 6. Tính pháp Tính pháp lý thấp Tính pháp lý cao lệnh 1.2 Một số nội dung kế toán quản trị chủ yếu theo thông tư 53/2006/TT- BTC 1.