CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Tổng quan về kế toán quản trị chi phí 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chi phí sản xuất Hiện tại có khá nhiều khái niệm về chi phí sản xuất như: Theo giáo trình Kế toán quản trị của Trường Đại học Thương Mại (2005): “Chi phí sản xuất là những khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng (bộ phận) sản xuất gắn liền với các hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm của doanh nghiệp”.
Theo giáo trình Kế toán quản trị của Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2012): “Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được tính cho một thời kỳ nhất định”. Chi phí sản xuất, dưới góc độ của kế toán quản trị có thể được coi là những khoản phí tổn thực tế phát sinh trong hoạt động sản xuất, có thể là những phí tổn ước tính hoặc dự kiến trước được tổng hợp theo từng bộ phận, từng khâu của quá trình sản xuất. Khái niệm chi phí sản xuất có sự khác với khái niệm chi tiêu. Mặc dù chi tiêu là cơ sở để phát sinh chi phí.
Tuy nhiên, chi phí và chi tiêu khác nhau cả về thời gian phát sinh và về lượng. Có những khoản chi tiêu kỳ này nhưng chưa được tính hết ngày vào chi phí trong kỳ này và có những khoản được tính vào chi phí kỳ này nhưng thực tế chưa chi tiêu. Sự khác nhau giữa chi phí và chi tiêu là do đặc điểm, cách thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản trong quá trình sản xuất cũng như yêu cầu kỹ thuật khi hạch toán. Luan van 8 Từ các quan điểm trên ta có thể hiểu chi phí sản xuất là các phí tổn (chi phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác) phát sinh gắn liền với hoạt động sản xuất, chế tạo sản phẩm của doanh nghiệp tính cho một thời kỳ nhất định và được biểu hiện bằng tiền.
Khái niệm giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng trong doanh nghiệp sản xuất. Thông qua chỉ tiêu này có thể thấy được năng lực, hiệu quả của công nghệ sản xuất, công tác quản lý sản xuất trong việc phối hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm đầu ra. Giá thành sản phẩm là cơ sở để xác định giá bán của sản phẩm hàng hóa trên thị trường. Theo giáo trình Kế toán tài chính trong các doanh nghiệp của Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2011): “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống vào lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng, công tác, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành.
Theo Giáo trình kế toán quản trị (2009) trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa được tính cho một đại lượng, kết quả, sản phẩm hoàn thành nhất định”. Cùng quan điểm trên Giáo trình Kế toán tài chính (2009) của Đại học Thương Mại (trang 242) cho rằng: “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm (công việc, lao vụ) nhất định đã hoàn thành”. Tóm lại, từ những khái niệm trên có thể hiểu giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra tính cho khối lượng sản phẩm đã hoàn thành. Giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất có mối quan hệ với nhau, giá thành sản phẩm có chức năng chủ yếu là bù đắp chi phí và lập giá.
Để bù đắp Luan van 9 chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra cho sản xuất sản phẩm thì chính là số tiền thu được khi tiêu thụ sản phẩm. Đây mới chỉ là yêu cầu của tái sản xuất giản đơn còn để mở rộng sản xuất ngoài việc bù đắp được chi phí sản xuất ra sản phẩm tiêu thụ thì còn phải có lãi từ hoạt động sản xuất sản phẩm. Khái niệm kế toán và kế toán quản trị a) Khái niệm kế toán Khái niệm về kế toán có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau: Nhà nghiên cứu lý luận, nhà quản trị doanh nghiệp, người sử dụng thông tin kế toán liên quan cho nên cách trình bày khái niệm kế toán có thể khác nhau. Theo giáo trình Nguyên lý kế toán (2009) Trường Đại học Thương Mại đã xác định “Xét dưới góc độ khoa học, Kế toán là môn khoa học thu nhận xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tình hình tài sản và sự vận động của tài sản trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, tổ chức sự nghiệp và các cơ quan nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính của các đơn vị đó.
Xét dưới góc độ chức năng, nhiệm vụ của kế toán, Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”. Theo giáo trình Nguyên lý kế toán (2011)Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh (trang 18): “Kế toán được xem là một hệ thống thông tin.” Trong Luật kế toán (2003) cho rằng “Kế toán là việc thu thập, xử lý kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”. Các khái niệm về kế toán nêu trên cho thấy những quan niệm về kế toán ở những phạm vi, góc độ khác nhau nhưng đều gắn kế toán với việc phục vụ cho công tác quản lý. Do vậy, kế toán là công cụ không thể thiếu được trong Luan van 10 hệ thống công cụ quản lý kinh tế, kế toán là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản, các hoạt động kinh tế tài chính trong các đơn vị nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị.
b) Khái niệm kế toán quản trị Theo mục đích cung cấp thông tin chúng ta có hai hệ thống kế toán tài chính cung cấp thông tin chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp và kế toán quản trị cung cấp thông tin cho các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp.Có nhiều khái niệm khác nhau về kế toán quản trị: Theo hiệp hội kế toán các quốc gia Mỹ - National Asociation of Accountans (NAA) - Văn kiện số 1A tháng 3 năm 1981: “Kế toán là quá trình cung cấp thông tin cho nhà quản lý doanh nghiệptrong việc lập và thực hiện kế hoạch, trong việc kiểm soát, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp. Quy trình kế toán quản trị bao gồm các công việc xác định, cân, đo, đong, đếm, thu thập, tích lũy, phân tích, chuẩn bị thông tin, giải thích và cung cấp thông tin cho các nhà quản lý để các nhà quản trị xử lý các thông tin này theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp”. Theo quan điểm của giáo trình Nguyên lý kế toán (2010)Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh: “Kế toán quản trị là quy trình thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và ra quyết định trong nội bộ đơn vị kế toán.” Theo quan điểm của giáo trình Kế toán quản trị - Học viện Tài chính (2002): “Kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý và cụ thể, phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch các hoạt động của doanh nghiệp.” Trong Luật kế toán Việt Nam (2003), Kế toán quản trị được khái niệm như sau: “ Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp Luan van 11 thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Từ những quan điểm trên có thể thấy kế toán quản trị là một phận của kế toán nói chung có chức năng quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp.
Vì vậy, có thể hiểu kế toán quản trị là một bộ môn khoa học có nhiệm vụ thu thập, xử lý và cung cấp thông tin định lượng được về hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ cho các nhà quản trị trong việc điều hành và quản lý doanh nghiệp. Khái niệm kế toán quản trị chi phí Đối với những nhà quản lý các cấp thì các chi phí là mối quan tâm hàng đầu, bởi vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của những chi phí đã chi ra. Kế toán quản trị chi phí cung cấp cả những thông tin quá khứ và những thông tin có tính dự báo thông qua việc lập kế hoạch và dự toán trên cơ sở định mức chi phí nhằm kiểm soát chi phí thực tế, đồng thời làm căn cứ cho việc lựa chọn các quyết định về giá bán sản phẩm, ký kết hợp đồng, tiếp tục sản xuất hay thuê ngoài. Kế toán quản trị chi phí quan tâm đến việc lập dự báo của thông tin và trách nhiệm của nhà quản trị các cấp nhằm gắn trách nhiệm của họ với chi phí qua hệ thống trung tâm chi phí được cung cấp bởi các trung tâm chi phí trong doanh nghiệp.
Trong bài báo “Kế toán quản trị chi phí và ứng dụng của kế toán quản trị chi phí vào các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam” của tác giả Đào Thị Minh Tâm đăng trên Tạp chí Nghiên cứu tài chính - kế toán số 03/2009 thì “Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị chuyên thực hiện việc xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoach định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định” Luan van 12 Kế toán quản trị chi phínhằm cung cấp thông tin cụ thể về chi phí phát sinh tại những thời điểm cụ thể, với những đặc điểm và bối cảnh chi tiết để từ đó có những giải pháp nhằm kiểm soát chi phí. Vì vậy, kế toán quản trị chi phí ghi chép theo loại sản phẩm hoặc công việc, theo đơn vị hoạch toán nội bộ, theo mối quan hệ với mức độ hoạt động.