CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái quát về Hội đồng nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm, vị trí và chức năng của Hội đồng nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm và đặc diểm về Hội đồng nhân dân cấp huyện Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946 quy định thành lập Hội đồng nhân dân ở tỉnh, thành phố và xã.
Sau đó, các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và 2013; Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 thì Hội đồng nhân dân được tổ chức ở tất cả các cấp hành chính ở địa phương gồm cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Các văn bản pháp luật nêu trên đều ghi nhận Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, khẳng định được vị trí, vai trò của mình, quyết định những chủ trương biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân địa phương, làm trọ nghĩa vụ của mình với địa phương và đất nước. Trong điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã nêu rõ: “Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”; “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”. Do đó, ở nước ta cơ bản, bản chất quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”.
Trong các bản Hiến pháp Việt Nam thì Hội đồng nhân dân các cấp có vị trí hết sức quan trọng vì: “Hội đồng nhân dân do đầu phiếu phổ thông và trực tiếp bầu ra”; “Hội đồng nhân dân quyết nghị về những vấn đề thuộc địa phương mình. Những nghị quyết ấy không được trái chỉ thị của các cấp trên” (27, Điều 58, 59). Hiến pháp năm 1959 nghi nhận: Hội đồng nhân dân các cấp là “cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân địa phương 6 bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương” (28, Điều 80).
Từ năm 1959 đến 1980, Hội đồng nhân dân được tổ chức ở tất cả các đơn vị hành chính địa phương: tỉnh, huyện, xã và tính quyền lực nhà nước ở địa phương của Hội đồng nhân dân chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp và các quy định trong Hiến pháp. Hiến pháp năm 1980 ( sửa đổi, bổ sung năm 1989), nêu rõ: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và chính quyền cấp trên” Với vị trí và tính chất pháp lý của Hội đồng nhân dân như Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và UBHC năm 1962 nhưng có bổ sung thêm nhiệm vụ thì Hội đồng nhân dân phải chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên và nhân dân địa phương. Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi, bổ sung năm 2001- Điều 119), Hiến pháp năm 2013( khoản 1 - Điều 113) và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, đã kế thừa và bổ sung rõ hơn “ Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri địa phương bầu ra, là cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”. Từ quá trình điều chỉnh pháp luật và thực tế về tổ chức và hoạt động của của Hội đồng nhân dân, có thể nêu khái niệm về Hội đồng nhân dân cấp huyện như sau: Hội đồng nhân dân cấp huyện là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do cử tri của đơn vị hành chính cấp huyện bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương theo luật định, giám sát thi hành pháp luật và chịu trách nhiệm trước nhân dân ở huyện và cơ quan nhà nước cấp trên.
Hội đồng nhân dân cấp huyện được tổ chức ở các đơn vị hành chính có tên là: huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh, thị xã. Hội đồng nhân dân cấp huyện có một số đặc điểm chủ yếu sau: + Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Theo quy định của pháp luật thì :"Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà 7 nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân" và "do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân". Nhân dân thực thi quyền lực Nhà nước thông qua các cơ quan đại diện cho mình ở cả hai cấp: Trung ương và địa phương.
Ở cấp Trung ương, Quốc hội :"là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam". Ở cấp địa phương :"Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương". Như vậy, Hội đồng nhân dân là cơ quan quan quyền lực nhà nước ở địa phương đã được Hiến định trong Hiến pháp 2013 (kể cả những Hiến pháp trước đây của nước ta). + Quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương trên mọi lĩnh vực: kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh.
Vì nhân dân là người làm chủ đất nước, mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, cho nên người dân phải được quyền quyết định mọi vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương thông qua cơ quan đại diện cho mình ở các cấp: cấp Trung ương là Quốc hội, cấp địa phương là Hội đồng nhân dân. Thẩm quyền quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương của Hội đồng nhân dân chính là hình thức người dân thực hiện quyền dân chủ đại diện của mình. Quyền lực của Hội đồng nhân dân là được nhân dân trao thông qua việc bầu chọn các đại biểu Hội đồng nhân dân thay mặt cho mình. Điều này cũng được pháp luật khẳng định :" Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định".
+ Đây là cấp chính quyền trung gian trong hệ thống chính quyền ở địa phương đó là giữa cấp tỉnh tỉnh và cấp xã. Hội đồng nhân dân được tổ chức theo đơn vị hành chính, mà theo phân loại đơn vị hành chính cấp chính quyền địa phương thì có ba cấp đó là cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã cho nên cấp huyện là đơn vị hành chính cấp trung gian trong hệ thống đơn vị hành chính. Vì là cấp trung gian trong hệ thống chính quyền, cùng với UBND tạo thành một cấp chính quyền ở huyện, thực thi quyền lực trong phạm vi rộng của địa phương, nên Hội đồng nhân dân, đại biểu HHội đồng nhân dân trực tiếp tương tác với người dân trong hoạt động công vụ thông qua trung gian giữa cấp tỉnh tỉnh và cấp xã. 8 + Gồm đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri bầu ra.
Do tính chất cơ bản của Nhà nước ta là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân và mọi quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, cho nên người dân phải có quyền trực tiếp bầu chọn cơ quan đại diện cho mình ở các cấp (Quốc hội và Hội đồng nhân dân). Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định :" Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra". Như vậy, Hội đồng nhân dân bao gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri bầu ra. + Tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, quyết định theo đa số.
Tập trung dân chủ là một nguyên tắc quan trọng của mọi cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị của nước ta hiện nay. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức Nhà nước cũng đã được Hiến định :" Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ". Do vậy, Hội đồng nhân dân cũng được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Mặt khác, Hội đồng nhân dân bao gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri trực tiếp bầu ra, do vậy về nguyên tắc mọi đại biểu Hội đồng nhân dân đều bình đẳng về quyền và trách nhiệm, trong đó có quyền phát biểu ý kiến và biểu quyết (hai quyền quan trọng nhất), nên khi quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền, Hội đồng nhân dân phải dùng hình thức biểu quyết theo đa số.
Pháp luật cũng quy định rõ :"Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số" và :"Đại biểu Hội đồng nhân dân bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân". Đây cũng là đặc điểm của tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân khác với UBND :" Ủy ban nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể Ủy ban nhân dân kết hợp với trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân". Vị trí và chức năng của Hội đồng nhân dân cấp huyện Vị trí của Hội đồng nhân dân cấp huyện có thể xác định như sau: Hội đồng nhân dân cùng với Ủy ban nhân dân là các cơ quan tạo thành bộ máy của một cấp chính quyền. Ở điạ phương, có ba cấp đơn vị hành chính là cấp tỉnh, 9 cấp huyện và cấp xã và các cấp tương đương.
Hội đồng nhân dân thuộc chính quyền địa phương cấp huyện. Đây là cấp chính quyền vẫn được xem là trung gian giữa chính quyền cấp tỉnh và chính quyền cấp xã. Theo một quan niệm khác, bộ máy nhà nước gồm có bốn hệ thống cơ bản là hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước, hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, hệ thống Tòa án nhân dân, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân. Hội đồng nhân dân cấp huyện thuộc hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước và là một cấp của hệ thống cơ quan này.
Như đã biết, hệ thống này gồm có Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng nhân dân cấp huyện, Hội đồng nhân dân cấp xã.