PHẦN MỞ ĐẦU Phát triển Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) của Đảng và Nhà nước, nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người. Công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân. Trong những năm gần đây, sự nghiệp TDTT nước ta đã có nhiều tiến bộ. TDTT quần chúng, giáo dục thể chất (GDTC) và thể thao trường học tiếp tục phát triển với nhiều hình thức đa dạng, góp phần nâng cao sức khỏe, xây dựng lối sống lành mạnh, cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân và học sinh, sinh viên.
Cơ sở vật chất (CSVC), kỹ thuật cho TDTT từng bước được đầu tư, nâng cấp và xây dựng mới. Trong Đề án tổng thể phát triển thể lực và tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030 khẳng định: Thực tiễn trong điều kiện đất nước có nhiều khó khăn, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội (XH), với những nỗ lực của ngành Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), công tác GDTC và thể thao trường học đã đạt những kết quả quan trọng trong việc phát triển thể chất nâng cao thể lực, nhằm giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên (HSSV), góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, chất lượng GDTC và thể thao trường học nhìn chung còn nhiều bất cập, thể chất của HSSV chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [51]. Hoạt động TDTT và GDTC mang lại rất nhiều lợi ích cho HSSV.
Các hoạt động TDTT ở các trường đại học phải kể đến như điền kinh, bơi lội, bóng rổ, cầu lông… Mỗi môn thể thao đều có những lợi thế khác nhau về rèn luyện sức khỏe cho người tập. Đặc biệt các câu lạc bộ (CLB) TDTT đang góp phần cải thiện những khó khăn mà nhà trường, CBVC và SV gặp phải và nâng cao hoạt động này. Nhận thức rõ vai trò tập luyện của TDTT đối với sức khỏe, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (ĐHSP Hà Nội 2) đã khuyến khích, động viên các 2 CBVC và SV tích cực tham gia vào các hoạt động TDTT trong Nhà trường với nhiều môn thể thao tự chọn phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, giới tính. Để phong trào tập luyện và thi đấu Cầu lông có sức lan tỏa mạnh mẽ, Nhà trường đã chủ động chỉ đạo lồng ghép các hoạt động tập luyện gắn với các cuộc vận động “rèn luyện thể lực theo gương Bác Hồ vĩ đại” và hàng năm, tổ chức rất nhiều giải Cầu lông thu hút đông đảo CBVC và SV tham gia.
Thực hiện quan điểm phát triển TDTT của Đảng và Nhà nước, trong những năm vừa qua, phong trào tập luyện môn Cầu lông đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, CBVC có cơ hội gặp gỡ, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm làm việc, giảng dạy; SV nâng cao thành tích học tập và hiểu biết, tăng cường tính đoàn kết giữa các đơn vị trong toàn trường. Bên cạnh đó, Trường ĐHSP Hà Nội 2 đạt được nhiều thành tích thi đấu khi tham gia giải ngoài trường, giúp cho phong trào tập luyện và thi đấu Cầu lông từng bước ổn định, phát triển sâu rộng, nâng cao chất lượng tổ chức, thu hút số lượng CBVC và SV tham gia tập luyện đông đảo hơn. Hiện nay Trường ĐHSP Hà Nội 2 đang có 02 CLB cầu lông của CBVC và SV, mỗi CLB đều có sự tham gia của nhiều hội viên; nội dung và hình thức tổ chức ngày một đa dạng và phong phú; Nhưng thực tiễn cho thấy, hoạt động của hai CLB cầu lông còn chưa được tổ chức chặt chẽ và khoa học nên chất lượng chưa cao. Do đó cần tìm hiểu những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của CLB cầu lông như: Cơ sở vật chất phục vụ cho tập luyện cầu lông; Nội dung tập luyện; Nhận thức về môn Cầu lông của một bộ phận CBVC và SV; Công tác chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện của CB quản lý CLB; Cơ chế chính sách; CSVC, kinh phí duy trì hoạt động; Số lượng giảng viên (GV), hướng dẫn viên (HDV) tập luyện cầu lông; Số lượng CBVC và SV tham gia tập luyện trong CLB không thường xuyên…từ đó là cơ sở để tìm ra những biện pháp phù hợp nâng cao hiệu quả hoạt động của CLB cầu lông.
Vấn đề nghiên cứu đánh giá thực trạng, đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động CLB TDTT cho CBVC và SV trong các trường học đã được nhiều 3 tác giả quan tâm nghiên cứu như: Nguyễn Gắng (2000): “Nghiên cứu xây dựng mô hình liên kết thể dục thể thao giữa Đại học Huế và các tổ chức thể dục thể thao trên địa bàn thành phố Huế” [30]; Lê Thanh Hà (2010): “Nghiên cứu mô hình câu lạc bộ cầu lông trong một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội” [34]; Trần Kim Cương (2009): “Nghiên cứu những giải pháp phát triển các loại hình câu lạc bộ TDTT cơ sở trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Ninh Bình” [24]. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu về CLB cầu lông được rất ít tác giả nghiên cứu, đặc biệt là chưa có công trình nghiên cứu nào về hiệu quả hoạt động CLB Cầu lông của Trường ĐHSP Hà Nội 2. Với mong muốn góp phần vào sự phát triển của Nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả tập luyện môn Cầu lông, cũng như nâng cao sức khỏe thể lực cho CBVC và SV trong CLB cầu lông, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động câu lạc bộ cầu lông của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2”. Mục đích nghiên cứu: Đề tài tiến hành phân tích và tổng hợp tài liệu, rút ra những cơ sở khoa học liên quan đến vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động câu lạc bộ cầu lông, đồng thời tiến hành điều tra thực trạng phong trào TDTT, phong trào tập luyện cầu lông và hiệu quả hoạt động của CLB cầu lông CBVC và SV Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, từ đó tiến hành lựa chọn, ứng dụng và đánh giá các biện pháp đáp ứng nhu cầu tập luyện của hội viên trong CLB Cầu lông.
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần tăng cường thể lực, duy trì sức khỏe, phát triển số lượng hội viên và thúc đẩy phong trào tập luyện môn Cầu lông của CBVC và SV trong Trường ĐHSP Hà Nội 2. Mục tiêu nghiên cứu: Với mục đích nghiên cứu trên, luận án thực hiện các mục tiêu nghiên cứu sau: Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng phong trào tập luyện TDTT và hiệu quả hoạt động CLB cầu lông của CBVC và SV Trường ĐHSP Hà Nội 2. Mục tiêu 2: Lựa chọn và đánh giá hiệu quả các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động CLB cầu lông của CBVC và SV Trường ĐHSP Hà Nội 2. 4 Giả thuyết khoa học của đề tài: Đề tài giả thuyết rằng hoạt động của CLB cầu lông CBVC và SV Trường ĐHSP Hà Nội 2 chưa có hiệu quả cao, nguyên nhân do chưa có biện pháp phù hợp để phát triển CLB cầu lông.
Nếu lựa chọn được các biện pháp có tính khoa học và phù hợp với thực tiễn thì sẽ nâng cao được hiệu quả hoạt động CLB cầu lông, góp phần tăng cường thể lực, duy trì sức khỏe cho hội viên và làm phong phú nội dung, quy mô CLB cầu lông của CBVC, SV đồng thời thúc đẩy hoạt động TDTT trong Trường ĐHSP Hà Nội 2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác Thể dục thể thao 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác Giáo dục thể chất và thể thao trường học Mục tiêu của GDTC và thể thao trường học là nhằm trang bị cho HSSV các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập TDTT để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện [51].
Luật TDTT số 26/2018/QH14 ngày 14/6/2018 đã xác định vai trò của GDTC và thể thao trường học là rất quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp TDTT. Do vậy, Đảng ta đã xác định: Mục tiêu chiến lược của TDTT là xúc tiến quá trình cải tạo nòi giống. Nhờ TDTT mà những yếu tố xã hội rất quan trọng như sức khỏe cường tráng, chiều cao, cân nặng, khả năng chống lại bệnh tật, tuổi thọ được tăng lên. Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18/09/2008 của Bộ GD&ĐT ban hành quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực HSSV.
Trong đó đã nêu ra các chỉ tiêu đến năm 2015 có 100% số trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình GDTC nội khóa, 45% số trường phổ thông có CLB TDTT, có CSVC phục vụ cho hoạt động TDTT, có đủ giáo viên (GV) và hướng dẫn viên (HDV) TDTT, thực hiện tốt hoạt động TT ngoại khóa, 75% số HSSV được đánh giá và xếp loại thể lực HSSV [6]. Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 3/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 đã dành riêng một phần quan trọng cho GDTC và hoạt động thể thao trường học [63]. Trong đó nêu bật hoạt động GDTC và các hoạt động thể thao ngoại khóa của HSSV chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho HSSV, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực… Chương trình chính khóa cũng 6 như nội dung hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn HSSV tham gia các hoạt động thể thao ngoại khóa. Ngày 01/12/2011, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020”.
Văn bản hướng dẫn thực hiện nghị quyết ghi rõ: “Phát triển phong trào TDTT quần chúng, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác GDTC và thể thao trường học” [5]. Ngày 31/01/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 11/2015/NĐ-CP “Quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong Nhà trường” với mục tiêu: trang bị cho HSSV các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập TDTT nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.